Apr 11, 2010

TRIP REPORT - Thanh Tùng




Bà Thanh,

Tôi ở Paris 2 bữa, bữa đầu nằm dài ở hotel, chỉ ra khỏi phòng đi ăn thôi, vì hôm đó mới tới, mệt rã người, mà trời Paris bữa đó gió và lạnh, cái lạnh ẩm thấp khó chịu quá, tôi chả thiết đi chơi nữa. Bữa sau lên Orsay (nói «xuống» chắc đúng hơn, vì Orsay nằm trong banlieu sud của Paris) làm việc với tên bạn tôi hợp tác từ lâu, và với thằng đệ tử của tôi, rồi hôm sau cùng nhau bay qua Maroc dự cái conference tên là PIRM (Physique de l'Interaction Rayonnement-Matière). Chỗ tụi này họp là một tỉnh lẻ miền Sahara occidental, nơi sa mạc tiếp cận với biển cả, tuốt phía cực nam xứ Maroc.

Tỉnh lẻ yên tĩnh, rất sạch sẽ, và có cái tôi gọi là caractère bon enfant (hiên hòa), ngược với Marrakech, nơi tổ chức kỳ họp trước, cách đây 4 năm. Bù lại nó không có cái hào nhoáng và giá trị lịch sử của Marrakech, và cái souk ở Dakhla nhỏ và tầm thường hơn cái ở Marrakech nhiều. Ở đó hai bữa tôi mới vỡ lẽ ra là mình đang ở một nơi chốn rất đậc biệt, vì Dakhla chính là Villa Cisneros, một trạm nôi trên đường bay của các chuyến tải thư của Aéropostale, thuộc hãng Latécoère ngày xưa. Không biết những cái tên đó có gợi gì cho bà không chứ khi tôi nhìn thấy trên tường cái quán rượu trên sân thượng khách sạn tôi ở, mấy tấm bích chương cũ về Aéropostale, và hình Mermoz, St-Exupéry, thì tôi cảm động vô cùng. Thoạt tiên, tôi ngỡ Dakhla mọc ra từ cái Cap Juby, nơi dồn trú của St-Ex, nơi ổng có nuôi con chồn sa mạc (con chồn của Hoàng Tử Bé!), nơi ổng lãnh giúp một tên Bart nào đó thoát ly khỏi ách nô lệ, nơi ổng «xuất hành» những chuyến thương lượng với bọn Maures hồi đó hay bắn hạ máy bay tải thư để bắt phi công làm con tin. Tôi nhớ lại những chuyện đó, chuyện ổng kể trong Terre des hommes (Đất người ta, Wind Sand and Stars) , nhớ cái giọng thiết tha đầy tình người của ổng mà cảm kích, hoài vọng. Dần dà, hỏi gạn người này người nọ tôi mới nhận ra Dakhla là Villa Cisneros, trạm sau Cap Juby (và cách Cap Juby 700 km về phía nam) trên đường tải thư qua Đại Tây Dương tới Buenos Aires, bên Á-căn-đình. Đâu đó, St-Ex có nhắc đến chốn này, có lẽ trong những lá thư ổng gửi cho bà bạn Renée de Saussine (Lettres de jeunesse).

Dù sao chăng nữa Dakhla cũng vẩn đặc biệt, với cái phi trường ngay giữa phố (tụi này chỉ cần đi bộ từ dó chưa đầy trăm thước, băng ngang qua con đường, là tới Hotel). Tôi có chụp tấm hình từ sân thương khách sạn qua sân bay làm chứng đó! Từ cái Villa Cisneros ngày xưa chắc bé tí tẹo, Dakhla bây giờ có gấn mười vạn dân cư. Họ sống về nghề chài nhiều, vậy mà tỉnh coi sạch sẽ, người dân tương đối lịch sự, dĩ nhiên là nghèo và quê mùa. Vậy đó, mà tối tối, người ta đi phố tấp nập, và đàn bà con gái họ cũng chịu khó chưng diện trong cái áo dài mấy lớp bọc thân, dưới cái khăn đội đầu kín đáo. Tôi không dám chụp họ bà Thanh ơi, sợ bị ...rượt! Biển và cát boc quanh, gió nhiều, nên chính quyền địa phương nhắm chuyện khai thác mở mang về énergie solaire và éolienne. Và du lịch nữa, nhất là về mặt kite surfing như một số hình tôi chụp cho thấy. Tỉnh lẻ vậy mà được một cuộc hội thảo gọi là quốc tế chiếu cố nên quan chức địa phương rất ân cần với tụi tui!

Họp thi họp ở tòa thị sảnh, còn ăn thì một tối, cả bọn được mời tới dinh «quan» thống đốc (tạm gọi vậy đi: tiếng ả rập là Wali) vùng này dự «yến». Yến tiệc đây sang là phải có thịt lạc đà, mà bà Thanh ơi, răng tôi yếu quá nhai không nổi! Tôi là người duy nhất gọi là cao cấp từ Canada tới nên được ngồi «chiếu trên» với «quan» Wali! Tôi không tự chụp được, nên chỉ chụp cái bàn trống, và quang cảnh chung của buổi tiệc thôi. Tiệc tùng không có rượu bia, rất đạm bạc. Cái miếng ăn duy nhất tôi thích ở đây là bánh ngọt (kiểu cookies) làm bằng pâte d'amande (bột hạnh nhân), thơm, ngọt dịu nhấm nháp với cốc chè ngọt (trà pha bạc hà, đường) ả rập đã lắm.


Mấy bữa ở đây làm quen nhiều người này người nọ, vì cuộc hội thảo nó như cái cầu nối nam bằc, xứ nhược tiểu với xứ giàu mạnh, kể cũng lạ, vì mặc dù trình độ khoa học hơn kém rất xa, nhưng rồi có cái gì đó, một thứ «camaraderie» gắn bó cũng thích. Và thích nhất là gặp một số người cũng cùng có cái vui như mình vì như tình cờ cùng tìm lại được dấu vết St-Ex. Có một bà người Bỉ (trong tấm hình tôi chụp ở cài coffee break dưới cái lều trắng có mặt bà đó), cũng hay vẽ như tôi, bả khoe tôi cuốn carnet de voyage, bả vẽ cảnh sa mạc bằng watercolour, rồi liên tưỡng đền St-Ex, ghi lại mấy giòng cóp từ cuồn Terre des Hommes, tôi coi thiệt là cảm động. Lạ ghê bà Thanh, tôi vẽ gì thì vẽ chứ bảo tôi dựa theo một cái text mà vẽ, mà minh họa thì tôi chịu!

Thế nhé, hứa sẽ viết report về chuyến du này cho bà đọc, tôi viết nhanh mấy giòng trên, nhớ cái gì thì viết cái đó.
thân

Tùng



Eton College - ANH QUÂN







Một trường tư nổi tiếng tại Anh quốc, loại trường nội trú dành cho con trai tuổi từ 13 cho đến 18. Thường thì mọi người hay gọi Eton, ít gọi nguyên cả tên (Eton College). Người sáng lập ra trường là Vua Henry VI vào năm 1440.

Trường tọa lạc trong một làng nhỏ tên là Eton, gần tỉnh Windsor là nơi có lâu đài Windsor.
Được đánh giá một trong những trường tư nổi tiếng trên thế giới.
Các học sinh trong trường này đều đậu vào đại học và trong đó một phần ba sĩ số học sinh sẽ đi học hai trường đại học danh tiếng là Oxford và Cambridge.

Trường Eton đã đào tạo ra được 18 em trở thành 18 vị Thủ Tướng của nước Anh.

Trường Eton đã được sử dụng quay một số phim như sau :
• Shakespeare in Love (1998)
• The Secret Garden (1993)
• Mansfield Park (1999)
• Chariots of Fire (1981)
• The Madness of King George (1994)
• Young Sherlock Holmes (1985)
• Aces High (1976)
• The Fourth Protocol (1987)

Nhiều nhân vật nổi tiếng đã học qua trường Eton là George Orwell, tác giả quyển tiểu thuyết nổi tiếng “Trại súc vật”, gián điệp nhị trùng ông Guy Burgess, từ tình báo Anh trở thành tình báo Sô Viết trong cuộc chiến lạnh vừa qua.


Hoàng gia Thái Lan đã gởi con cái đến Eton học trong nhiều thế hệ, có một người đã thành vua Thái từ năm 1893 – 1941 là vua Rama VII. Bởi vậy khi đến Eton chúng ta có thể gặp nhiều du khách trẻ từ Thái Lan, họ rất tự hào khi các vị Hoàng tộc của quốc gia họ đã được giáo dục từ đây.

Có một số nhà văn nổi tiếng đã dùng trường Eton để biến chế ra các vai chính trong tác phẩm giả tưởng của họ. Trong đó có anh chàng gián điệp hào hoa phong nhã của Anh là James Bond (rất tiếc người thứ 8 của Việt Nam mình chắc bị ảnh hưởng văn hóa Pháp nên không tạo anh Tống Văn Bình Z28 từ trường Eton). Anh chàng 007 thuở bé đi học Eton, đến tuổi 18 quậy quá là tán tỉnh một cô gái làm việc quản gia tại Eton thế là James bị đuổi học luôn. Ai cũng biết James Bond là nhân vật ảo tưởng nhưng lại tin tưởng một cách tuyệt đối là James có đi học tại Eton và có cái tính hào hoa vì họ biết tác giả của loạt chuyện gián điệp 007, là ông Ian Femming, người đã viết tất cả 14 tác phẩm James Bond từ quyển đầu tiên là “Casino Royal” cho đến “The living daylights” đã học qua trường Eton, thì ông cũng dùng một phần đời của ông để tả tính nết của James.

Một tiếng xấu của trường Eton là vào năm 2008, có 4 em học sinh trường Eton tuổi từ 13-14 đã cướp đồ một em gái 14 tuổi ngoài sân chơi trường học. Các em này đã làm gãy một xương sườn của em gái và em đã nói là trong 4 đứa tiểu yêu này có một đứa đã thoát y để tính làm chuyện tồi bại. Sau đó 4 em bị bắt và đuổi ra khỏi trường.

Về trường Eton thì có nhiều chuyện để kể, nhưng không kể được hết trong lúc này, Quân chỉ xin tóm tắt như trên. Xin xem vài tấm hình, Quân chụp khi thăm trường vào Weekend này.

ANH QUÂN


Dừng tâm đón thơ - SEN TRẮNG


Thi nhân trải lòng theo mây gió
Mặc khách dừng tâm đón hồn thơ

SEN TRẮNG 2010

Apr 8, 2010

ƯỚC VỌNG NGÀY XUÂN - Sen Trắng

photo: sen trang's phu quân


Bầu trời trông thật đẹp
Vài cánh én lượn bay
Báo hiệu xuân về đến
Mang niềm vui cho người

Đã mấy xuân rồi nhỉ?
Ta vui xuân một mình
Bạn thân nào đâu thấy
Giờ ngăn cách hai phương

Nơi quê nhà nhộn nhịp
Chuẩn bị đón xuân về
Nơi này xuân chẳng thấy
Ngày xuân lặng lẽ qua

Mong mai này có dịp
Về hưởng lại xuân xưa
Rong chơi ba ngày Tết
Cho thỏa lòng ước mơ.

Sen Trắng
1995

Apr 7, 2010

Helen Beatrix Potter - ANH QUÂN






Nhân được nghĩ liên tục 4 ngày lễ Phục Sinh, Quân đưa cả gia đình đi ra khỏi sự ồn ào của đô thị London, để đi đến một vùng đất thiên nhiên trên phía bắc nước Anh, có tên gọi là “Lake District”. Trong bài viết này Quân không nói về địa danh này mà Quân muốn nói về một nhân vật nữ nổi tiếng, có liên quan đến sách vở. Còn về chuyến đi xa này Quân xin khất để cho bài viết sau.

Lúc còn bé, cũng như mọi đứa trẻ Quân rất thích xem sách hình và đọc truyện thiếu nhi. Tại một quốc gia chiến tranh, ảnh hưởng nền giáo dục của Pháp và còn chậm phát triển thì sách cho nhi đồng vô cùng hời hợt. Xem lại thời cuối thập niên 60 và đầu 70 những tập sách hình theo đúng nghĩa giáo dục thì có loạt sách “Nhi đồng quốc tế”, là họ dịch từ các câu chuyện nổi tiếng của công ty hoạt hình Disney như “Bạch Tuyết và 7 chú lùn”, “Cô bé lọ lem”, “Công chúa ngủ trong rừng”, “Pinocchio”... Còn truyện Việt Nam được gói ghém trong hai quyển “Truyện cổ nước nam”, them nữa là “Nam hải dị nhân”. Ngoài ra có loạt truyện hình rất ăn khách thiếu nhi là 18 tập truyện “Tề Thiên Đại Thánh”, có đều đến ngày nay Quân không biết tập sách này có được kiểm duyệt qua bộ giáo dục Việt Nam Công Hòa chăng, tuy là ai cũng biết đây là sách có triết lý thâm sâu, mà chuyển qua sách hình thì có thích hợp cho thiếu nhi không? Đến giờ chưa thấy ai nói cả. Còn loại sách hình “Made in Cholon” được bán đầy rẫy khắp các cổng trường thì ăn khách thiếu nhi vô cùng, nếu ai đã mê thì không thể quên được Siêu Nhân, Người Dơi, Người Điện Quang... các loại sách này thì bảo đảm không được bộ giáo dục chấp nhận rồi, sau này gần đến năm 1975, các anh chị tuốt Chợ Lớn còn phát hành một loạt sách hình nhiều tập là “Tiểu lưu manh”. Còn thêm một loạt sách hình copy từ sách tây là Tintin, Phan Tân Sỹ Phú, Xì Trum, Lucky Luck, Asterix và Obelix, Tí hon thần lực.... sách hình này thuộc loại đứng đắn, nhưng chắc người xuất bản tại Việt Nam chưa mua bản quyền, xem chừng họ mua sách phát hành tại ngoại quốc, đem về in thành trắng đen, dịch ra lời Việt. Sau này Quân mới được biết người dịch sách hình này là do ông vua Hippy Trường Kỳ , người đã qua đời vào năm ngoái. Theo lời ông Trường Kỳ kể “Thấy anh em đói rách quá xá, ông anh Nguyễn Văn Thành bầy ra trò dịch sách hình Tây để anh em sống cầm hơi. Kỳ Phát và tôi từ đó làm việc như điên. Phát thì dung giấy sáp tô lại hình của những quyển Lucky Luke, Tintin hoặc Schtroumphs v.v... Sau đó đến lượt tôi ngồi dịch như máy...”


Có một loạt truyện được chia ra thành từng bộ có tên là Hoa Đỏ, Hoa Xanh và Hoa Tím được đánh giá là có chất lượng nhất tại Việt Nam. Phải nói đây là một loại sách có giá trị và đáng tự hào vì đã tạo thành một tên tuổi riêng biệt. Cho đến giờ thì tại Việt Nam vẫn chưa có một loạt sách thiếu nhi như Tuổi Hoa cả, gần đây vừa có một thông tin là chính phủ Việt Nam cho tái bản sách Tuổi Hoa sau 35 năm bắt nó phải chết, nhưng không biết ngày nào nó được hoạt động lại như xưa thì không biết nổi.

Nếu bây giờ ai có dịp về hay đang sống tại Sài Gòn, hãy bước vào một nhà sách như Minh Khai, Fahasha hay nhà sách Sài Gòn (Khai Trí cũ), đi đến gian hàng sách thiếu nhi thì ta tìm được những gì? Quân đã gặp trong vòng 10 em tại Việt Nam cũng như đang du học tại Anh quốc, hay hỏi các em lúc còn bé hay đọc sách loại nào? khoảng đúng 1 tuần hỏi một em đang học học tại Anh, em qua được 6 tháng, trước đó là học sinh trường Lê Quí Đôn – Sài Gòn, hỏi em có hay đọc sách không? Em trả lời một cách thiếu tự nhiên, nói không rõ rang, xem chừng là cảm thấy mình học sinh trường điểm mà nói không thì kỳ quá. Em nói đại là có, thì Quân hỏi tiếp là sách loại gì? Em nghĩ vài chục giây nói là quyển “Kính vạn hoa”, Quân hỏi tiếp tác giả là ai? Thì thấy coi bộ em bí hết đường nói, Quân liền đỡ lời là sách của Nguyễn Nhật Anh phải không? Em mới ừ ừ. Quân thoáng bị một cảm giác chưng hửng là ngày nay tại Việt Nam không ai còn thiết tha đến sách vở nữa chăng? Nguyễn Nhật Anh là một người viết sách cho tuổi mới lớn nhưng cái thời của thập niên 90, mà phải nói tại Việt Nam mình nhà văn viết sách cho thiếu nhi quá hiếm hoi, đến nổi người xa quê hương trên cả 20 năm, quay trở về hỏi sách cho thiếu nhi ai viết hay nhất, mọi người cùng nhau nói là Nguyễn Nhật Anh, nên thế Quân không thể nào quên được tên anh ta cả.

Nên vậy vào cuối tuần qua, Quân đến Lake District, đi thăm phòng tranh của nữ nhà văn Helen Beatrix Potter, người nổi tiếng viết truyện hình nhi đồng tại Anh quốc. Bà sanh năm 1866 và chết vào năm 1943. Thuở bé bà không đến trường nhưng được thuê giáo sư về nhà dạy bà cho đến lúc trưởng thành, vì lý do đó bà là người rất cô đơn, không có bạn bè ở tuổi thiếu nhi, người em trai của bà bị bắt đi học nội trú nên bà càng không có ai để nói chuyện, nên bà phải làm bạn với thỏ, chó, mèo, ếch, heo và cả dơi nữa. Bà sống và chơi đùa với các con vật, bà xem chúng phát triển từng ngày, từng tháng và từng năm, nhờ vậy bà hiểu các thú tính khác nhau của từng các vật, dần dà bà tạo cho bà lối suy nghĩ có tính cách nghệ thuật và các nét đẹp của từng con vật.

Gia đình bà Potter thuộc loại khá giả, sống nhờ di sản của ông cha để lại. Bố của bà đi học Luật, học xong chẳng bao giờ hành nghề vì ông chỉ sống theo kiểu ham vui, ông gia nhập vào câu lạc bộ dành cho những người giàu , chung quanh toàn thú vui nên ông cảm thấy nếu không vui thì cũng uổng, nhất lại nhà có tiền thì lo gì, vì mẹ bà Potter là con gái của công ty hang buôn vải.

Khi bà Potter đến tuổi thiếu niên, vào mỗi năm gia đình bà đều đưa bà đi chơi về phía miền bắc nước Anh, vùng trên đó thuộc loại cao nguyên, núi đồi trùng điệp đầy màu xanh, tuy không hùng vĩ bằng Evergreen state của Hoa Kỳ, vẫn có một nét đẹp thơ mộng và họ đã chọn mua vùng đất trên Lake District. Kể từ đó bà rất yêu thiên nhiên, có nhiều tư tưởng để vẽ ra những tấm hình cho các câu truyện loài vật của bà. Ngoài ra bà Potter đã học hỏi để trở thành môt nhà sinh vật học về cây cối. Người bác của bà đã giới thiệu vào trường đại học về sinh vật tại Kew Garden – London (Royal Botanic Garden), rất tiếc xứ Anh lúc đó là trọng nam khinh nữ, nên bà không được vào đây học.


Vào năm 1893, bà gởi một tập hình và câu truyện cho người bạn của bà tên là Noel Moore, ông ta thấy được giá trị của câu truyện và các nhân vật trong truyện, nên đã khuyến khích bà xuất bản các tập sách hình của bà. Năm 1901, bà quyết định cho ra đời tác phẩm của bà, quyển truyện hình đầu tiên của bà chọn tên là The Tale of Peter Rabbit and Mr. McGregor's Garden. Bà đưa cho sáu nhà xuất bản nhưng tất cả đều khéo từ chối với lý do là sách thiếu màu sắc. Đến tháng 9 năm 1901 bà quyết định tự mình xuất bản với 250 bản đầu tiên đã gây sự chú ý của công ty ấn loát Frederick Warne & Co và họ đồng ý ký hợp đồng với bà vào năm 1902. Tựa đề của sách cũng được chọn ngắn hơn mang tên là The Tale of Peter Rabbit. Cho đến cuối năm 1902 thì 28 ngàn bản đã được phát hành rộng rãi, cũng kể từ đó nhân vật Peter Rabitt được ra đời, chính thức vào năm 1903 và được xem là con búp bê loài vật có bản quyền với tuổi thọ cao nhất hiện giờ.

Kể từ đó bà viết tất cả 23 tác phẩm, với các nhân vật khác nhau như Sóc, heo, ếch, thỏ... tất cả các nhân vật của bà đều có cá tính riêng biệt, xem qua là nhớ chúng nó liền tại chỗ. Cho đến năm 1920 bà phải dừng viết vì y khoa ngày ấy còn yếu kém, nên đôi mắt của bà không còn sáng suốt để sáng tác.

Sau đây là những di sản của bà để lại cho hậu nhân

· Tất cả đất đai của bà cống hiến vào tài sản quốc gia gồm có 4 ngàn mẫu đất (khoảng 16 km vuông) , nhà và 15 nông trại của bà trên khu Lake District.

· Một dãy nhà chuyên về văn học của bà giờ để lại cho công ty ấn loát Chorion và nhiệm vụ của họ là tái xuất bản hết các loại truyện nhi đồng cổ xưa, hiện tại của Vương quốc Anh.

· Ông Walt Disney đã đến gặp bà để xin mua bản quyền sách của bà nhưng thất bại tuy ông đã rất thành công với các nhân vật trong truyện hình nổi tiếng là Winnie-the-Pooh và The Wind in the Willows.

· Vào năm 1982, đài truyền hình BBC đã làm một loạt phim về bà Potter , đến năm 1992 họ lại sản xuất về phim hoạt hình của bà.

· Năm 1971, đã chuyển chuyện của bà Potter vào điện ảnh. Vào tháng 6 năm 2006 tại Toronto Fringe Festival, Canada. Cô Suzy Conn đã chuyển câu chuyện The Tale of Pigling Bland vào nhạc kịch.

Sách truyện của bà Potter ảnh hưởng trong đời sống người Anh nhiều hơn các nơi khác, vì lý do đó mà chúng ta khó mà thấy được tại Việt Nam. Có một điều phải công nhận là bà Potter rất có công với nền giáo dục cùa Anh, nhờ vậy đất nước này mới còn nhiều sức quyến rũ mọi người trên thế giới đến xin học hàng năm.

Anh Quân

Apr 4, 2010

Cây cối mùa Xuân - TƯ LIÊN

Sáng nay, hai chị em Út Liên có một buổi sáng lăn lộn với con đường hoa Móng Bò, hay còn gọi Hoàng Hậu. Bác Thanh có nghĩ hoa này có họ với Magnolia không ? Em thấy nó rất giống, chỉ trừ lá là không giống nhau.

Cây cối mùa Xuân đầy sức sống, hoặc nói phun tràn sức sống đến nỗi thân hoa chỗ nào có chỗ nẻ là nụ hoa tuôn ra chỗ đó.

TƯ LIÊN































ĐỌC “TU TẠI GIA” CỦA CƯ SĨ BẢO THÔNG LÊ THÁI ẤT: CẨM NANG DÀNH CHO NGƯỜI PHẬT TỬ TẠI NHÀ



“Thứ nhất là Tu Tại Gia
Thứ nhì Tu Chợ, thứ ba Tu Chùa…”


Câu ca dao này đã quá quen thuộc đối với người dân Việt Nam. Bởi vì nền văn hóa Phật Giáo đã gắn liền với đời sống của dân tộc ta từ hơn nghìn năm trước. Thời kỳ phát triển rực rỡ của Phật Giáo trong các đời Lý, Trần cũng là thời kỳ hưng thịnh nhất của lịch sử Việt Nam. Đạo Phật trong chốn thiền môn ảnh hưởng tới chốn triều đình, đến từng nhà để làm nền tảng đạo lý cho gia đình Việt Nam.

Rất nhiều người Việt là cư sĩ tại gia. Dù không xuống tóc xuất gia, nhưng họ vẫn qui y Phật-Pháp-Tăng, sống trong đời đúng theo chánh pháp. Tu tại gia trở thành một nếp sống được lưu truyền trong nền văn hóa Việt theo kiểu dân gian, ít có dịp được đúc kết lại thành sách vở.
Đầu xuân Canh Dần, Giáo Sư Lê Thái Ất - tức cư sĩ tại gia Bảo Thông- đã cho ra mắt cuốn sách Tu Tại Gia. Có thể xem đây như một cuốn cẩm nang cho đường lối tu nhập thế trong truyền thống của văn hóa Việt. Mời quí vị độc giả điểm qua một số nét chính từ cuốn sách dầy hơn 500 trang này…

Điểm dễ nhận thấy đầu tiên là, ngay phần mục lục, cuốn sách này không phải là một hệ thống kiến thức được trình bày theo một thứ tự tự nào đó. Bởi vì cuốn là tập hợp của những đề tài được tác giả tự nhặt nhạnh, ghi chép lại trong quá trình tu học của chính mình. Do đó, nó không dùng để lý giải Phật Giáo một cách có hệ thống. Theo Giáo Sư Lê Thái Ất, có thể xem quá trình tu Phật gồm bốn giai đoạn tín-giải-hành-chứng. Những ai đã khởi tín, trong quá trình tu gặp những thắc mắc, thì cuốn sách này sẽ là một trợ duyên, giúp cho họ giải thích được những câu hỏi đó. Đọc cuốn sách này để có thêm chánh tín, còn chuyện thực hành và thực chứng vẫn là con đường đi của từng Phật Tử. Đạo Phật là đạo của thực nghiệm, mỗi cá nhân phải tự tìm ra con đường đi riêng cho chính mình.

55 đề tài mà Giáo Sư Lê Thái Ất đã bàn đến trong cuốn sách Tu Tại Gia là lời giải thích sâu sắc cho nhiều vấn đề mà người phật tử tại gia hay gặp. Điều đó cũng dễ hiểu, vì đó là công trình nghiên cứu của một cư sĩ tại gia trong gần 40 năm tu học. Giáo Sư đã tự tìm hiểu qua sách vở, tham vấn các vị tu sĩ, thảo luận với các bạn đồng tu của mình để những có câu trả lời này. Đó là sự đúc kết kiến thức, kinh nghiệm, sự thực chứng của một cư sĩ tại gia, cũng là một giáo sư triết học và là một nhà nghiên cứu văn hóa.

Chẳng hạn như đề tài “Nam Mô A Di Đà Phật”. Phật Tử nào cũng đều hơn một lần niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Nhưng có mấy ai hiểu khi niệm sáu chữ này có nghĩa là ta nguyện đi theo ánh sáng của đấng toàn giác vô lượng quan, vô lượng thọ. Có mấy ai biết được vì sao mà pháp môn niệm Phật lại có sức mạnh giải thoát vô song: “thời mạt pháp vạn ức người tu không được một người giải thoát, chỉ nương pháp môn Niệm Phật mới ra khỏi được luân hồi…” (Kinh Đại Tập Phật). Có mấy ai niệm Phật mà nhất tâm chí thành, để hình ảnh, hào quang của Phật A Di Đà với thân tâm mình là một, từ đó mà dứt được nghiệp quá khứ, thân tâm trở nên thanh tịnh (trang 124).

Phật tử tại gia thì thường ai cũng đã từng đi hành hương. Nhưng ta sẽ thú vị khi biết thêm về ý nghĩa thiết thực của quá trình hành hương, và cách thức để thực hiện một chuyến hành hương có kết quả cho việc tu học của mình. Ở mức độ “thân hành hương, người phật tử hay khách du lịch đến viếng chùa để ngắm cảnh, nên nhìn tượng phật chỉ ở góc độ hình tướng … Ở mức độ “tâm hành hương”, hành hương thực sự, Phật Tử đi chùa nhiếp tâm để nhìn thấy mình đang đến nhà Như Lai, nhìn thấy Pháp Thân Phật một cách trọn vẹn, từ đó khơi dậy tâm Phật trong chính bản thân mình. Chúng ta hay nghĩ đi hành hương chỉ là thời gian đi đến chùa. Kỳ thực, qui trình hành hương đầy đủ bao gồm thời gian từ nhà đến chùa, hành lễ niệm hương tại chùa và từ chùa trở về nhà. Đến chùa, thành tâm hành lễ để nương vào Pháp Thân Phật để mong thấy Tánh, ngộ đạo. Sau đó trở về nhà, ta đem theo Phật Lực về để mà hành đạo. Ta không giữ hương Phật chỉ cho mình, mà còn ướp thơm cho cả tha nhân nữa. Đi hành hương trong tinh thần Bồ Tát Đạo là vậy đó! (trang 231)

Một đề tài được bàn trong cuốn sách nói lên được tính nhân bản đặc thù trong Đạo Phật, đólà Người Tu Thành Phật (trang 271). Đạo Phật là hữu thần hay vô thần? Cần nhớ rằng trong giáo lý Đạo Phật không có một đấng Thượng Đế toàn năng sáng tạo ra con người và muôn loài, do đó Đạo Phật không thờ thiên thần. Người Phật tử tôn thờ vị giáo chủ là Đức Phật Thích Ca. Ngài cũng chỉ là một con người, do tu hành mà nhìn thấy chân lý của vạn pháp, rồi sau đó truyền lại kinh nghiệm thực chứng của chính mình cho chúng sinh qua hệ thống giáo lý Phật. Ngài nói rằng đã là người ai cũng có Phật tánh ngay trong tâm của mình. Chỉ cần biết cách tu hành, con người sẽ thành Phật, tức là tìm thấy Phật trong ta. Lúc đó tín đồ sẽ trở thành giáo chủ! Đây chính là tính bình đẳng và nhân bản độc đáo nhất của Phật Giáo. Nói là Đạo Phật vô thần cũng không đúng, vì Đạo Phật thờ nhân thần, thờ một con người đã thành đạo, và tin tưởng rằng mỗi người đều có khả năng thành đạo. Đạo Phật đề cao con người trong muôn loài vì khả năng tu thành Phật của chúng ta, khuyến khích chúng ta hãy tự tin nơi chính mình trên con đường tu học. Trong đề tài Phật Độ (trang 49), tác giả nhấn mạnh lại lời Phật dạy “tự giác, tự độ” trong quá trình tu, để nhắc nhở chúng ta hiểu đúng hành động đến chùa cầu xin Phật độ. Chúng ta giống như những người bộ hành đến một bờ của một dòng sông mà không có phương tiện qua bên kia bờ. Dòng sông và hai bến bờ tượng trưng cho tâm mê lầm-chướng ngại- tâm giác ngộ. Phật độ là Phật cho chúng ta mượn con thuyền để qua sông, con thuyền đó chính là Kinh Phật. Chính chúng ta phải là người chèo lái, chứ không phải là Đức Phật!

Còn rất nhiều vấn đề khác của Đạo Phật mà chúng ta hay gặp trong đời sống hằng ngày: Chính Trị Trong Đạo Phật (trang 345), Đạo Vợ Chồng (trang 455), Đạo làm người ( trang 483)… Trong sách cũng có những đề tài rất sâu sắc, chỉ có những người đã nghiên cứu Phật Pháp lâu năm mới biết đến như Tây Phương Cực Lạc và Đông Phương Diệu Hỉ (trang 371), Đại Tử Nhất Phiên (trang 307)… Tu Phật có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn. Người Phật tử tại gia ở bên xứ Mỹ bận rộn này thường không có điều kiện để đi chùa, gặp thầy để xin giải đáp những thắc mắc trong quá trình tu tập của mình. Có được cuốn sách này, độc giả giống như được trao đổi, chia xẻ kinh nghiệm với một cư sĩ tại gia, đã dành cả đời để chiêm nghiệm Phật Pháp. Đây cũng là một duyên lành đối với tất cả những người đang tu Phật.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách Tu Tại Gia đến với quí độc giả, quí đạo hữu…

Đoàn Hưng