Jun 30, 2009

TỪ BI HỶ XẢ

Photo: HTBNgọc

Tâm Từ bao trùm mọi chúng sanh. Tâm Bi cứu vớt những chúng sanh đau khổ. Tâm Hỷ vui vẻ trước những chúng sanh hạnh phúc. Tâm Xả bao trùm việc tốt và xấu, những điều khả ái và những điều khả ố, thích thú hay nghịch lòng đều buông xả một cách tự tại vô ngại. Vì chấp trước phiền não nên mới sanh tử luân hồi. Đức Phật dạy chúng ta phóng hạ vạn duyên tức thới thành Phật. Nghĩa là buông xả hết muôn duyên, không còn mảy may dính mắc thì liền thành Phật đạo. Chấp trước thì nặng nề bực bội, buông xả thì được nhẹ nhàng thanh thoát, nhất là xả được tất cả vọng tưởng điên đảo thì mới thật là Đại Xả vậy.

Như vậy thì Tứ Vô Lượng Tâm là bốn đức tính vô cùng quý báu của Đại Thừa Tâm Pháp mà hàng Phật Tử xuất gia hay tại gia đều phải thực hành để mau viên thành đạo quả.

Người không biết tu thì thấy đường đạo xa xôi diệu vợi dễ sanh lòng chán nản. Còn người biết tu thì cảm thấy rất dễ dàng, an nhàn giải thoát.

Rất mong tất cả mọi người đều hăng hái phấn khởi thực hiện Pháp môn Tứ Vô Lượng Tâm nói trên.

Trích Chữa Bịnh Bằng Phương Pháp Tứ Vô Lượng Tâm -
Đường Tam Tạng Pháp Sư
Huyền Trang dịch
Mẹ Thảo đọc, Út đánh máy

TÂM XẢ

Photo: HTBNgọc

Xả là đức tính thứ tư trong Tứ Vô Lượng Tâm, khó thực hành nhất mà cũng cần thiết nhất trong bốn đức tính cao thượng. Xả ở đây không có nghĩa lạnh lùng, lãnh đạm, không màng đến thế sự, cũng không phải cảm giác vô ký không vui thích, không phiền não.

Khinh rẻ, phỉ báng, nguyền rủa là thường tình. Hạng người trong sạch, đạo đức thường bị chỉ trích và khiển trách. Giữa cơn giông tố của trường đời, người quân tử luôn luôn giữ tâm bình thản.

Được thua, thành bại, ca tụng, khiển trách, hạnh phúc về phiền não là những việc thường xảy ra trong làm xúc động con người. Được ca tụng thì vui thích, bị khiển trách thì buồn rầu là lẽ thường. Nhưng giữa cuộc thăng trầm của thế sự, Đức Phật dạy ta: “Người khôn luôn luôn thản nhiên, hành Tâm xả, vững chắc như tảng đá to sừng sững giữa trời”.

Đời sống của Đức Phật là một gương sáng về Tâm Xả cho những ai còn luân chuyển trong vòng Tam Giới. Chưa từng có vị giáo chủ nào hoặc một nhân vật nào bị chỉ trích nghiêm khắc, bị đả kích, sỉ nhục hoặc bị lăng mạ nhiều như Đức Phật. Đức Phật lại cũng là người được tán dương, sùng bái và tôn kính nhất.

Ngày kia trong khi Đức Phật đi trì bình khất thực, có một đạo sĩ bà la môn ngạo mạn kêu Ngài là người cùng đinh ăn mày và đối xử với Ngài hết sức vô lễ. Ngài thản nhiên chịu đựng và ôn hoà giải thích cho Đạo sĩ thế nào là cùng đinh và vì sao chẳng nên khinh rẻ hạng người này, khiến cho vị đạo sĩ lấy làm khâm phục.

Một lần khác có người thỉnh Đức Phật tới nhà trai Tăng. Khi Đức Phật đến, chủ nhà lại dùng lời vô lễ đối xử với Ngài một cách thậm tệ. Nhưng Đức Phật không tức giận, ôn tồn hỏi chủ nhà: “Nếu ông biết có khách đến viếng nhà ông, ông phải làm sao?”
Chủ nhà đáp: “Tôi sẽ sửa soạn một bữa cơm để đãi khách”.
Đức Phật nói: “Tốt lắm nhưng nếu khách không đến thì làm sao?”
Chủ nhà đáp: “Thì tôi sẽ cùng vợ con chia nhau bữa cơm”.

Đức Phật nói : “Tốt lắm, này bạn, hôm nay bạn mời Như Lai đã đến nhà để đãi ăn. Bạn đã dọn lên cho Như Lai những lời thô lỗ, cộc cằn. Như Lai không nhận, vậy xin bạn hãy giữ lấy.”
Lời nói này đã làm cho chủ nhà thay đổi hẳn thái độ.

[...] Đó là những lời vàng ngọc mà Đức Phật khuyên ta nên ghi nhớ hàng ngày trong kiếp sống vô thường này.

Tại một xứ nọ có lần một mệnh phụ phu nhân xúi dục một người say rượu đến nhục mạ Đức Phật thậm tệ, đến đỗi Đại Đức A Nan không thể chịu được, nên yêu cầu Đức Phật sang qua Xứ khác. Nhưng Đức Phật không đổi chỗ cũng không hề xúc động.

Một người đàn bà khác giả có mang để vu oan Đức Phật giữa công chúng. Một người đàn bà khác nữa bị giết để vu cáo Đức Phật phạm tội sát sanh.

Một người bà con và cũng là đệ tử của Phật cũng manh tâm lăn đá từ trên đồi cao quyết giết hại Ngài. Chí đến trong hàng đệ tử của Ngài cũng có người hờn trách Ngài là đố kỵ, thiên vị, bất công v..v…

Trái lại một đằng khác có bao nhiêu người sẽ tán dương công đức và ca tụng Đức Phật, bao nhiêu Vua, Chúa đã khấu đầu lễ bái dưới chân Ngài. Như mặt đất, Đức Phật nhận tất cả với một tâm xả hoàn toàn.

Vững như voi, mạnh như hổ, ta nên run sợ trước tiếng động, miệng Lân, lưỡi Mối không làm cho ta xúc động, như gió thổi ngang màn lưới mà không bị vưóng trong lưới. Tuy sống giữa chợ, người ta không nên luyến ái những lạc thú huyền ảo và vô thường của đời.

Như hoa Sen từ bùn nước đục, vượt lên trên bao nhiêu quyến rũ của thế gian, phải sống trong sạch luôn luôn tinh khiết, luôn luôn yên tĩnh và an vui.

Người thù trực tiếp của Tâm Xả là sự luyến ái và kẻ thù gián tiếp của Tâm Xả là sự lãnh đạm, thái độ lạnh lùng, xoay lưng với thế sự.

Tâm Xả lánh xa lòng tham ái, chấp trước và trạng thái bất mãn. Thái độ vô tư thản nhiên, an tịnh là đặc tính quan trọng của Tâm Xả. Người có tâm xả kông thích thú trong vui sướng, cũng không bực tức trong phiền não. Người có Tâm Xả đối xử đồng đều không thấy sự khác biệt giữa người tội lỗi và bậc Thánh Nhân.

Trích Chữa Bịnh Bằng Phương Pháp Tứ Vô Lượng Tâm -
Đường Tam Tạng Pháp Sư
Huyền Trang dịch
Mẹ Thảo đọc, Út đánh máy


TÂM HỶ

Photo: HTBNgọc

Đức tính cao thượng thứ ba trong Tứ Vô Lượng Tâm là Hỷ. Hỷ đây không phải là cái vui đón cảm tình riêng đối với một người nào, cũng không phải là trạng thái thoả thích suông. Hỷ là lòng hoan hỷ trước sự an vui của người khác, trước sự thành công của mọi người.

Lòng ganh tỵ là kẻ thù trực tiếp của Tâm Hỷ và hỷ là cái vui làm tiêu tan lòng ganh tỵ. Ganh tỵ có sức phá hoại vô cùng nguy hiểm. Có nhiều người lấy làm bực tức khó chịu khi thấy hoặc nghe nói người khác thành tựu mỹ mãn một công việc. Thấy người thất bại thì vui mừng thoả thích, trái lại không thể chịu đựng sự thành công của kẻ khác và cố gắng phá hoặc bóp méo sự thật để chê bai người, thay vì vui lên để tán dương thắng lợi của người.

Về mọi phương diện, chính người có Tâm Hỷ trực tiếp hưởng nhiều lợi ích do Tâm ấy đem lại hơn là người khác, vì Tâm Hỷ không chấp chứa lòng ganh tỵ. Về một phương diện khác, người có tâm hỷ không bao giờ làm trở ngại đường tiến bộ và khuấy rối sự an lạc của ai.

Con người phàm phu tầm thường luôn luôn có tính thừa cơ rửa hận, nên không bao giờ bộc lộ được vui vẻ trước cái vui của người thù nghịch mà chỉ có thể phát hiện dễ dàng đối với người mình thân thích mà thôi.

Lòng ganh tị còn thúc đẩy con người để hại đối phương. Đó là bản tính tội lỗi của người thế gian đang miệt mài say đắm trong ảo mộng. Nếu so sánh Tâm Từ với Tâm Bi thì Tâm Hỷ lại càng khó thực hiện. Muốn có Tâm Hỷ phải có ý chí mạnh mẽ và phải hết sức cố gắng.

[...] Người Phật Tử nên thực hành Tâm Hỷ trong đời sống cá nhận, cũng như đời sống tập thể, để tạo an vui hạnh phúc và vươn mình lên để sống trong sạch và thanh cao.

Đặc tánh của Tâm Hỷ là hoan hỷ với người thành công, người phước lộc, vui một cách thành thật, thoải mái chớ không phải làm ra vẻ hân hoan ngoài mặt mà bên trong chất chứa căn thù. Vui cười hỷ hả không phải là đặc tính của Tâm Hỷ và làm trò phỉnh thích được coi là kẻ thù gián tiếp của Tâm Hỷ. Tâm Hỷ là đức tánh thành thật chung vui, chung mừng và ngợi khen. Tâm Hỷ loại trừ mọi hình thức bất mãn trước sự thành công của kẻ khác.

Trích Chữa Bịnh Bằng Phương Pháp Tứ Vô Lượng Tâm -
Đường Tam Tạng Pháp Sư
Huyền Trang dịch
Mẹ Thảo đọc, Út đánh máy

TÂM BI

Photo: HTBNgọc

Đức tính thứ nhì giúp con người trở nên cao thượng là Tâm Bi: Bi là động lực làm cho Tâm rung động trước sự đau khổ của kẻ khác, là cái gì thoa dịu lòng đau khổ của người khác. Đặc tánh của Tâm Bi là ý thức giúp người khác thoát khỏi cảnh khổ.

Lòng của người có tâm Bi thật mềm dịu hơn cả những đóa hoa mềm. Ngày nào chưa cứu giúp được kẻ khác thì tâm Bi không hề tự mãn. Lắm khi để làm êm dịu sự đau khổ của kẻ khác, người có tâm Bi không ngần ngại hy sinh đến cả thân mình. Như sự tich trong kinh Hiền Ngu đã nêu lên cho ta gương lành của một vị Bồ Tát tự nhiên hiến thân cho cọp mẹ và bầy con đói.

Chính do nơi tâm Bi mà con người có thể hoàn toàn vị tha trong khi phục vụ. Người có tâm Bi không sống cho mình mà sống cho kẻ khác, luôn luôn tìm cơ hội để giúp cho đời nhưng không bao giờ được đền ơn đáp nghĩa.

Đối tượng của tâm Bi là gì?

Là những kẻ nghèo hèn đói rách, túng thiếu, cơ hàn, đau ốm, cô đơn, dốt nát, hư hèn, người có đời sống ô trược buông lung là hạng người cần đến Tâm Bi của những tấm lòng trắc ẩn cao thượng, không phân biệt chủng tộc, giai cấp hoặc tôn giáo. Chẳng luận về phần tinh thần hay vật chất, bổn phận có tâm Bi là giúp đỡ cho hết đau khổ, biết bao nhiêu đàn ông, đàn bà, trẻ em, già cả đang sống trong cảnh cơ hàn, thiếu thốn đến suy kiệt là người còn da bọc xương, hoặc chết cúm ngoài đầu đường xó chợ.

[...]
Người giàu có tiền của có bổn phận giúp đỡ cho kẻ nghèo vật chất. Người giàu tinh thần. đạo đức cũng có bổn phận giúp đỡ kẻ nghèo tinh thần, mặc dầu người ấy có thể là một đại phú có tiền rừng bạc bể. Kho tàng của báu không đem lại an vui cho tinh thần. Tâm trạng an vui chỉ do kho tàng đạo đức tạo ra mà thôi.

Hạng người phóng đãng tội lỗi lại càng được sót thương hơn vì họ là những người bịnh hoạn về tinh thần. Ta không khinh rẻ hay bài xích hạng người yếu đuối ấy, vì họ đã bị lầm đường lạc nẻo, ta nên thương xót và dìu dắt họ trở lại con đường phải.

Cha mẹ thương đồng đều các con nhưng đặc biệt chăm nom săn sóc những đứa ốm yếu hoặc kém sút, cũng như thế, tâm Bi của ta phải bao trùm tất cả chúng sanh đau khổ nhưng riêng đối với những hạng người bịnh hoạn tinh thần, sút kém đạo đức, ta nên có lòng thương xót đặc biệt và hết lòng giúp đỡ dẫn dắt họ trở lại đường lành.

[...] Bên trong mỗi người, dẫu là xấu xa tàn ác đến đâu, đều có ngủ ngầm những đức tính tốt. Đôi khi chỉ một lời nói phải đúng lúc cũng có thể cải hoá được con người từ dữ ra lành.

[...] Thế gian ngày nay sống trong sự sai lầm cầm thú oán hận, tham lam, ô trược là nhơn loại đang đi đang đi lần đến họa diệt vong. Muốn cứu vãn tình thế, toàn thể loài người cần phải thực hiện Tâm Từ Bi để tiêu trừ những hành động độc ác và tàn bạo. Ta cũng nên nhận định rằng Tâm Bi của Phật Giáo không phải những giọt nước mắt nhỏ suông mà gọi là thương xót mà phải thể hiện bằng việc làm từ thiện. Kẻ thù gián tiếp của Tâm Bi là sự âu sầu, phiền não.

Trích Chữa Bịnh Bằng Phương Pháp Tứ Vô Lượng Tâm -
Đường Tam Tạng Pháp Sư
Huyền Trang dịch
Mẹ Thảo đọc, Út đánh máy

Jun 28, 2009

TÂM TỪ

Photo: HTBNgọc

[...]

Thật ra không có một ngôn ngữ nào tả cho đúng nghĩa chữ (Matta) Từ trong Phạn Ngữ. Thiện ý, từ ái, hảo tâm, bác ái là những danh từ tạm gọi là đồng nghĩa với Matta mà thôi.

Nghịch nghĩa với Matta (Từ) là lòng sân hận, ác ý, thù oán, ghen ghét. Từ và sân hận không thể phát sinh cùng một lúc. Thù oán cũng không thể chứa đựng được Từ. Đức Phật dạy rằng không thể lấy thù oán để diệt sân hận. Chỉ có Tâm Từ mới dập tắt đưọc lòng sân hận.

Không những dập tắt được lòng sân hận, Tâm Từ còn diệt trừ các mầm tư tưởng bất thiện đối với một người khác. Người có Tâm Từ không bao giờ là nghĩ đến sự làm hại, làm giảm giá trị hoặc bài xích ai. Không bao giờ sợ ai cũng không bao giờ làm ai sợ.

Cần chú ý: Kẻ thù gián tiếp thường mang lốt của Tâm Từ một cách sâu uẩn bất ngờ là lòng trìu mến vị kỷ. Nếu quan niệm không đúng đắn Tâm Từ có thể trở thành luyến ái. Kẻ thù gián tiếp này thật là tế nhị mà cũng thật là hiểm độc. Nó hành động như người ẩn núp trong rừng sâu hay ở sau một sườn núi để chờ đợi hại người khác, hoặc nó làm người bạn thân ở kế bên ta mà lúc nào cũng chực hờ để ám hại ta. Lòng trìu mến đem lại phiền não, Tâm Từ chỉ tạo sự an lành hạnh phúc.

Đây là một điểm tế nhị mà ta không nên hiểu lầm. Cha mẹ thường yêu, trìu mến con cái, con cái trìu mến cha mẹ, vợ mến chồng, chồng mến vợ, tình luyến ái giữa những người thân yêu là một lẽ thường, một sự tự nhiên. Thế gian không thể tồn tại nếu không có tình thương nhưng tình thương luôn luôn có ích kỷ hẹp hòi không thể sánh được với Tâm Từ là tình thương đồng đều đối với tất cả chúng sanh trong vũ trụ bao la. Do đó lòng từ đồng nghĩa với tình thương ích kỷ.

Có ý muốn làm cho kẻ khác yên vui là đặc điểm của Tâm Từ. Người có Tâm Từ luôn luôn cố gắng tạo sự an lành cho tất cả chúng sanh, chỉ thấy những điều tốt đẹp nơi mọi người và không khi nào nhìn cái xấu xa hư hỏng của một ai.

Trích Chữa Bịnh Bằng Phương Pháp Tứ Vô Lượng Tâm -
Đường Tam Tạng Pháp Sư
Huyền Trang dịch
Mẹ Thảo đọc, Út đánh máy

Jun 26, 2009

Fête nationale du Québec - Thanh Tùng

Bà Thanh ơi,

Út nó đòi tôi tả chuyện gọi là rong chơi cho bà nghe (đọc), mặc dù chả có gì là hay ho hết, vả lại đó không phải là rong chơi, mà chen chúc, trong biển người đêm St-Jean (Saint patron du Québec, la fête étant considérée fête nationale du Québec, donc bà Thủy et moi, on ne faisait que notre devoir de citoyens) .


Ngộp thở bà ơi! Bà Thủy với tôi cùng liên tưởng đến biển người ngập tràn đường phố Paris những đêm đen lịch sử 1789. Chỉ khác là ở đây người ta reo vui, đàng kia người ta reo hận, hẳn đáng sợ hơn nhiều. Tụi tui nhập bọn với tụi trẻ, gặp chỗ có nhạc xập xình, hai vợ chồng già tôi cũng bày đặt nhảy nhót, làm thế nào rớt mất tiêu cặp mắt kiếng. Có vậy thôi mà cô Út đòi tôi kể bà nghe bằng được !

Quý vị có thể thấy tấm hình dưới đây tôi chụp đêm đó (chụp rất khó Út ơi, vì tối, không có flash, không có tripod, mà người ta chen chúc dữ quá) .

Ngoài ra, cùng cuốn phim đó, Út ơi, anh có chụp hình hôm anh chị đi St-Eugene sur l’Islet, một cái làng cách Québec khoảng 100 km, xem chim trời. Hình tĩnh và thơ mộng hơn nhiều.


http://picasaweb.google.fr/ttung.nguyendang/TourOrnithoAStEugeneSurLIsletJuin2009?authkey=Gv1sRgCPiZuPSF25vVOQ#


Ngoài cái lễ St-Jean, hai vợ chồng tui còn "xuống đường" thêm một đêm nọ để xem Cirque du soleil mở dầu cả chương trinh diễn xuất cả mùa hè ở Québec, trình diễn ngoài trời, luu động. CẢ MÙA HÈ!!!! Tui gửi mấy tấm của dân pro chụp đoàn xiếc cho quý vị xem trước, hẹn lá thư kế sẽ kể chuyện về đoàn xiếc tài tình này.



(http://photos.cyberpresse.ca/68-6573/#enVedette/0/recherche/Rechercher%20un%20album/0/onglets/68/0/album/6573/163193/)

Thân

Tùng

Ẩm thực - BÒ LÚC LẮC

Khoe mọi người tài làm bếp của anh Anh nè : ) : )

Mẹ Thanh


Photo- anh Anh


Wok-seared "Shaking" Beef

Use both the light and dark soy sauces if you want a little extra deep color. Feel free to dress up the final platter with some tomato wedges. If serving without the watercress, opt to present the beef with a side of salt, pepper, lime dipping sauce (muoi tieu chanh) for guests to dip the cubes in.

1 1/4 pound tri-tip (bottom sirloin/culotte) steaks

Marinade:
1/2 teaspoon freshly cracked black pepper
1 1/2 teaspoons sugar
2 cloves garlic, minced
2 tablespoons oyster sauce
1 teaspoon fish sauce
1 tablespoon regular (light) soy sauce, or 2 teaspoons regular (light) and 1 teaspoon dark soy sauce

Dressing:
1 shallot, thinly sliced (1/4 cup total)
1 1/2 teaspoon sugar
1 or 2 pinches salt
3 to 5 cracks black pepper
1 1/2 tablespoons unseasoned rice vinegar
2 tablespoons water

4 cups watercress, use only the tender leafy parts
2 tablespoon canola or peanut oil

1. Trim excess fat from the steaks and then cut each into 3/4-inch cubes. In a bowl, combine the pepper, sugar, garlic, oyster sauce, fish sauce and soy sauce. Add the beef and toss well to coat. Set aside to marinade for 2o minutes or up to 2 hours.

2. For the dressing, put the shallot in a mesh strainer and rinse under water for about 10 seconds to reduce some of the harshness. In large mixing bowl, combine the sugar, salt, pepper, vinegar and water. Stir to dissolve the sugar. Add the shallot. Put the watercress on top but hold off on tossing.

3. Heat the oil in a wok or large skillet over high heat. Add the beef and spread it out in one layer. Cook in batches, if necessary. Let the beef sear for about 1 minute, before shaking the wok or skillet to sear another side. Cook for another 30 seconds or so and shake. Cook the beef for about 4 minutes total, until nicely browned and medium rare.

In between shakes, toss the watercress and transfer onto a platter or serving dish. When the beef is done, pile the beef on to of the watercress and serve immediately with lots of rice.

Source: http://vietworldkitchen.typepad.com/blog/2008/05/wok-seared-shak.html