Trích : https://lieutruongvietvadoc.wordpress.com/2025/05/31/khu-rung-lau-cua-doan-quoc-sy-cuoc-hanh-trinh-di-tim-tu-do/
Vì Khu Rừng Lau là một trường thiên tiểu thuyết, chúng ta cần theo dõi nội dung với những chi tiết cần thiết ngõ hầu nắm bắt cốt truyện, và cuối cùng thấy được nghệ thuật sáng tạo của Doãn Quốc Sỹ.
NỘI DUNG CỦA TRUYỆN KHU RỪNG LAU
Nội dung trải dài qua 4 cuốn truyện cho thấy sự hình thành của một cuộc hành trình tập thể đi tìm tự do.
BA SINH HƯƠNG LỬA
Trong cuốn truyện đầu tiên này, độc giả làm quen với các nhân vật thuộc thế hệ trẻ, tức Tân, Hiển, Miên, Kha và Hãng.
Để có một đường dây mạch lạc chúng ta theo dõi hai anh em Hiển và Miên từ đầu đến cuối. Vô số các nhân vật khác sẽ lần lượt xuất hiện xung quanh hai nhân vật này.
Hiển và Miên là hai anh em thuộc một gia đình nghèo, ở làng Hạc Thủy, cha mẹ vào rừng đốn củi làm than, khi người mẹ sinh đứa con thứ ba, con trai tên Mẫn, bà sinh khó, chết trong rừng. Chẳng bao lâu người cha cũng chết. Trong làng Hạc Thủy, có bà Quản Mão là một người đàn bà có tiền của và giàu lòng thương người, bà đem ba anh em về nuôi. Một hôm có người chú, chú Thuật, từ Sài gòn ra nhận ba đứa cháu, quyết định đem Mẫn về Sài gòn nuôi, và gửi Hiển và Miên cho một người quen ở Hà Nội, hằng tháng chú gửi tiền cho hai anh em ăn học. Càng khôn lớn hai anh em Hiển và Miên càng thương yêu nhau. Hai anh em biết ơn bà Quản Mão, thỉnh thoảng về làng thăm bà. Miên lớn lên có vẻ đẹp dịu dàng, Miên thích ngắm cảnh đẹp của thiên nhiên, từ trên núi Sáng ở Bỉnh Di, nhìn xuống thung lũng, Miên thấy một khu rừng mà Miên tưởng là rừng mía, nhưng Hiển bảo đó là khu rừng lau, Miên yêu màu xanh cẩm thạch của lá lau, đến mùa hoa lau nở thì toàn rừng chuyển qua màu tím nhạt. Hiển đỗ tú tài, còn Miên đỗ trung học và học nghề y tá để giúp người bớt khổ. Sau khi tốt nghiệp y tá, Miên phục vụ ở Quân Y viện, thời Việt Minh, ở huyện Lập Thạch. Thời gian Miên làm việc ở đây có Tân một sinh viên y khoa năm thứ tư (trường y khoa thời đó gọi là trường thuốc), đến cộng tác. Miên và Tân thường chuyện trò, trao đổi với nhau về nhiều vấn đề và trở nên thân thiết. Tân coi Miên như một người em gái. Trước đó độc giả biết rõ nguồn gốc của Tân sinh trưởng ở làng Lại Vũ, cha mất sớm, bỏ dở việc học, về giúp mẹ buôn bán, có lúc học nghề đánh cá với chú Tây, cha của bé Phiệt. Trong làng Lại Vũ, Tân biết có một người con trai tên Chủy, con cụ đồ Thinh, người hiền lành. Chủy, người vạm vỡ, ngỗ nghịch, lêu lổng. Khi mẹ Tân buôn bán khá ở Bắc Ninh, Tân muốn nối lại việc học và thi đỗ tú tài. Khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, Tân theo một nhóm thanh niên học một lớp huấn luyện cán bộ sản xuất ở đồn điền Lợi Ký của ông bà Phán ở Phú Thọ. Đồn điền được ủy ban trung ương chọn làm nơi huấn luyện. Tại đây Tân quen với ba người con của ông bà Phán : Hãng, con trai đầu vừa đỗ tú tài ở Pháp, phải trở về nước vì chiến tranh, và hai cô em của Hãng : Vân và Thi, cũng vì chiến tranh, bỏ học ở Hà Nội trở về đồn điền. Ở đồn điển Lợi Ký, Tân bất ngờ gặp lại Chủy nay đã đổi tên là Nguyễn Đức Mạnh, làm chủ tịch huyện Thanh Ba. Mạnh có công trạng với Đảng cộng sản khi ám sát đội Sam làm công an cho Pháp. Sau vụ ám sát Mạnh được kết nạp vào Đảng, trở nên một người có nhiều quyền uy, thái độ kẻ cả. Mạnh lợi dụng địa vị của mình xin cưới Vân làm vợ, trong khi Vân có người yêu tên Kha, nhưng Kha đã bặt tin một thời gian lâu. Sau đám cưới Vân, Kha trở về tạt qua đồn điền và ngỡ ngàng được tin Vân có chồng. Ở đồn điền Tân và Kha quen nhau, trở nên đôi bạn thân thiết, hứa sẽ cùng nhau ghi tên học trường thuốc. Nhưng cuối cùng Kha học luật, còn Tân muốn vừa tham gia kháng chiến vừa học trường thuốc.
Về phần Hiển đã đỗ tú tài, vào lúc thời kỳ Mặt trận Việt Minh với khẩu hiệu Đánh Tây Đuổi Nhật bắt đầu. Pháp muốn tái chiếm Nam bộ. Hiển gia nhập đoàn quân Nam Tiến. Hiển không biết có sự chống đối Quốc Cộng ngấm ngầm từ tháng 10-1945 đến tháng 6-1946.
Trước khi Hiển lên đường xảy ra cái chết thê thảm của Kinh, một người con trai hăng hái, dũng cảm, cùng làng Hạc Thủy với Hiển. Phòng quân của tướng Lư Hán từ Vân Nam đổ xuống, bộ đội của Kinh gặp một đội phòng quân hách dịch, Kinh bèn ra lệnh đánh úp, quân Tàu thất bại. Bên phía Tàu phản đối với Việt Minh, để lấy lòng chính quyền Tàu, Việt Minh nhượng bộ và tuyên án tử hình Kinh. Kinh bị hành quyết. Điều này làm Hiển quá đau xót và đâm ra ghế tỡm chính trị. Suốt đời Hiển, Hiển bị cái chết của Kinh ám ảnh.
Pháp tái chiếm Nam bộ. Chiến tranh ngày càng lan rộng. Một năm sau, bộ đội của Hiển từ Sông Cầu trở về Bắc, Hiển đi lên mặt trận Tây Bắc, về sau dự chiến dịch Nà Sản.
Miên vẫn làm việc ở Lập Thạch, vẫn bị Khu rừng lau ám ảnh nhưng nay đã khá xa. Giữa cao trào đoàn kết cứu quốc đòi hỏi nhiều hy sinh, Miên hãnh diện về anh mình, sống trong chờ đợi tin tức của anh. Quân y viện nay ở trong rừng thẳm thuộc huyện Lập Thạch, có quá nhiều khẩu hiệu tràn vào, nhưng Miên dửng dưng, chỉ hết lòng lo cho công việc của mình.
Đầu năm 1952, sau chiến thắng Cao-Bắc-Lạng, Đảng Cộng sản công khai ra mắt quốc dân lấy tên Đảng Lao Động Việt Nam.
Miên từ giữa năm 1950 bị tước đoạt trọng trách ở quân y viện, trở thành một y tá tầm thường, Miên không lấy làm gì vì nghĩ mình đã đóng góp phần nào vào công cuộc kháng chiến. Nhưng Miên bị người y tá đảng viên gây áp lực, khuyên Miên nên có thái độ thuận tiện để được kết nạp vào Đảng. Miên từ chối vì Miên cho rằng không cứ là đảng viên mới phục vụ đắc lực tổ quốc, lại nữa kỷ luật của Đảng là một kỷ luật thép mà Miên thì quá tình cảm. Miên bản tính dịu hiền, thâm trầm, quyết từ nay dùng nụ cười như một khí giới để đối phó với mọi người và tự che chở mình. Đã 3 năm Miên trông chờ tin tức của Hiển.
Cuối năm 1950, dân y viện và quân y viện liên khu nhập làm một khiến Miên nhiều công việc hơn. Trong cơ quan đã bắt đầu có những cố vấn Tàu. Vì nhu cầu ở mặt trận Vĩnh Phúc (Vĩnh Yên – Phúc Yên), một viên cố vấn đại tá quân y về thủ thuật sữa soạn lên đường đến đơn vị gần mặt trận. Miên ở trong số 10 người được cử đi theo viên cố vấn. Họ đến một ngôi đình trong rừng là nơi chứa thuốc men, dụng cụ quân y và có nhiều thương binh nằm la liệt. Nơi đây Miên làm việc với bác sĩ T trong phòng mổ và có Tân, lúc đó là sinh viên năm thứ tư, phụ tá bác sĩ. Miên và Tân đồng cảm trong việc xem thường các đảng viên chỉ biết cái lợi của chính trị, không chút tôn trọng ngành y khoa, ăn uống sung sướng trong khi các thương phế binh thiếu thốn cực khổ.
Tân kể cho Miên nghe năm 1947 Tân ghi tên năm thứ nhất trường thuốc, năm 1950 ghi tên vào bộ đội phục vụ quân y trung đoàn 36, rồi theo bộ đội lên Cao-Bắc-Lạng, tham dự các trận Đông Khê, Thấy Khê và chở thương binh qua biên giới Trung Hoa, điều trị tại Quảng Uyên đối diện với Cao Bằng. Cho tới đây tình cảm của Tân đối với những người cộng sản lãnh đạo kháng chiến chưa có gì thay đổi. Chính sách tương đối dân chủ của họ bắt đầu chuyển hướng từ đầu 1950. Tháng 5-1950 họ khai hội Trung Ương đảng bộ quyết định áp dụng chính sách điền thổ của Trung Cộng ở Việt Nam. Từ sau chiến thắng Cao-Bắc-Lạng, họ có thái độ nghi kỵ đối với « quần chúng tiểu tư sản ».
Tháng giêng 1951 Tân theo bộ đội từ Cao-Bắc-Lạng xuống mặt trận trung du, tại đây Tân gặp Liệt, người thanh niên đã hát bài Nguyễn Thái Học ở đồn điền Lợi Ký, khi theo lớp huấn luyện cán bộ sản xuất.
Nay Liệt không còn là cán bộ, mà là người dân thường. Liệt có nhiều u uất sinh ra rượu chè và khi say Liệt nói ra những chuyện bí ẩn về Hồ Chí Minh, về những cán bộ quân sự quốc gia xuất thân từ hai trường Hoàng Phố và Liễu Châu đã biến mất. Chuyện tới tai cơ quan kháng chiến hành chính, sau đó có hai tên du kích đến nhà hạ sát Liệt. Tân căn cứ vào bài hát Nguyễn Thái Học mà Liệt thường hát để đoán rằng Liệt là một chiến sĩ Việt Quốc mà vì hoàn cảnh phải quy thuận đoàn thể Việt Minh hồi ở đồn điền Lợi Ký.
Tân may mắn có một nghề cao quý để quên các bực dọc nhưng vẫn cảm thấy bất mãn.
Ngày Nhật đảo chánh 9-3-1945, quân đội Pháp ở Hà Giang-Lai Châu lùi sang Tàu. Ngày Nhật đầu hàng 2-8-1945, quân Pháp từ Tàu trở về Hà Giang-Lai Châu.
Hai anh em Hiển và Miên vừa về gặp nhau ở làng Hạc Thủy, Hiển từ giã Miên để theo bộ đội lên Hà Giang đánh Pháp.
Mùa thu 1948, Hiển theo một đại đội từ mặt trận Đông núi Tây Côn Lĩnh sang đột kích đồn Pháp bên mặt Tây núi này. Ngọn Tây Côn Lĩnh cao 2.431 thước trên cao nguyên Pac Khă, vào miền ranh giới Lao Kay – Hà Giang. Trên đường đi bộ đội Hiển gặp đồn Tây, bị bắn tả tơi ; nhiều người chết, người sống đói lạnh. Thất bại vì quân báo kém. Ba tháng sau bộ đội Hiển vượt Tây Côn Lĩnh an toàn nhờ rút kinh nghiệm thất bại trước.
1949-1950 Hiển rời Tây Bắc xuống tiếp tay cho bộ đội ở mặt trận đồng bằng : Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên. Nhưng Hiển trở về địa bàn cũ để chuẩn bị những chiến dịch lớn. Rồi Hiển được cử sang Tàu học lục quân khóa 8. Sau chiến thắng Cao-Bắc-Lạng, để tránh phi cơ oanh tạc, trường lục quân Trần Quốc Tuấn rời khỏi Thái Nguyên, chuyển sang Côn Minh ở Vân Nam, địa điểm ở Phụng Minh Thôn.
Trước khi lên đường, Hiển xin phép về Hạc Thủy thăm Miên, Miên cũng đang có mặt ở làng. Anh em gặp lại nhau sau 4 năm xa cách. Hiển xúc động thương đứa em côi cút của mình. Hiển vui mừng cho Miên biết được Đảng tin cậy nên được gửi đi học lục quân bên Tàu, Hiển mong rồi đây sẽ được kết nạp vào Đảng. Nghe như vậy, Miên lấy làm lo âu, Hiển ngay từ đầu lo xung phong ở chiến trường, chưa biết rõ Cộng sản. Thấy anh hãnh diện, hào hứng, Miên bật khóc.
Nụ cười bình phong của Miên hết hiệu nghiệm vì nỗi lo âu Hiển sang Tàu và vì chính sách chống địa chủ. Đầu năm 1953, Việt Bắc chính thức phát động phong trào đấu tố. Từ xa Miên theo dõi vụ đấu tố bà Cát Hanh Long, trước kia là một ân nhân của Việt Minh, nay bị án tử hình. Miên nhận thấy những buổi học tập kiểm thảo đầy căm hờn, không còn đâu là lòng thương người.
Sau khi chia tay với Miên bên bờ sông Đáy, Hiển vượt ngọn Tam Đảo sang Thái Nguyên, nhập đơn vị sang Tàu ở địa điểm Phụng Minh Thôn. Vừa đến Tàu, Hiển được cử sang Nga học về trọng pháo, mục đích để Hiển chỉ huy trung đoàn trọng pháo đầu tiên, linh hồn của chiến thắng Điện Biên Phủ. Đến Mạc Tư Khoa Hiển cùng hai người nông dân được hướng dẫn đi thăm một nông trường, một xưởng máy Staline sản xuất nông cụ, trường đại học Lénine, xe điện hầm. Hiển ngao ngán, tự ái bị xúc phạm, không muốn mình là đại diện của một nước nhược tiểu đến chiêm ngưỡng một nước đàn anh vĩ đại. Rồi Hiển được biết cuối cùng không được học khóa học đã dự định vì thiếu điều kiện giai cấp : Hiển không thuộc thành phần công nông. Hiển hoàn toàn dửng dưng.
Một người cán bộ có cảm tình với Hiển, đến làm quen, nói đỗ tú tài triết sau Hiển một năm, Hiển đỗ tú tài toán. Người cán bộ đó là Kha, Kha cũng là người quen thân với Tân ở đồn điền Lợi Ký trước đó. Kha đã học khóa 7, nay vừa là học viên khóa 8 vừa là cán bộ phụ trách văn nghệ của hiệu bộ (văn phòng ban giám đốc trường).
Kha kể trong khi khóa 7 đang học thì có lệnh đem kinh nghiệm Trung Hoa áp dụng vào trường lục quân : kinh nghiệm phát động Phong trào « tam phản » để khám phá những thành phần phản động Đảng. Cuộc kiểm thảo tam phản gồm những giai đoạn như sau :
– Một « người điển hình » thú nhận những tội lỗi (tưởng tượng) của mình.
– Đương sự lên bàn mổ, căn cứ vào những tội của người điển hình để thành thật khai tội của mình.
– Các đồng chí căn cứ vào những lời thú tội để tìm ra căn bệnh.
– Cấp lãnh đạo căn cứ vào những lời bộc lộ, dùng « ánh sáng của lý luận Mác Lê » để quyết định thành phần của đương sự.
Tam phản là một cuộc tra tấn tâm lý gây nhiều vụ tự tử. Trong số các nạn nhân có Uy và Đồng là hai người bạn thân nhau từ thuở ở cô nhi viện, thương nhau như hai anh em ruột. Đồng đã bị tuyên truyền của tam phản đành tố cáo Uy, nhưng sau vì hối hận, vì quá thương bạn Đồng đã tự tử. Tuy nhiên có hai trường hợp phản kháng nhờ óc thông minh của hai đương sự đã gây lúng túng cho cấp lãnh đạo. Người thứ nhất là Hãng, còn nhớ Hãng là con trai ông bà Phán, chủ đồn điền Lợi Ký, từng du học ở Pháp, học luật ở Hà Nội. Hãng trở thành đảng viên, thành tích tranh đấu rực rỡ, lòng kiên trung, cương trực, thẳng thắn. Tuy thế Hãng bị ghi vào sổ đen vì thuộc hạng trí thức, con địa chủ. Hãng chưa lên bàn mổ. Ban lãnh đạo chờ Hãng viết thư phản tỉnh. Hãng đưa ra một bản tự thuật như sau : sinh năm 1921 ; 1939 du học Pháp ; 1944 về nước học luật, giúp sổ sách buôn bán của cha mẹ ; 1946 về đồn điền Lợi Ký ở Phú Thọ, chứng kiến một lớp huấn luyện cán bộ sản xuất ; 1948 gia nhập bộ đội, theo đoàn quân Tây tiến ; đầu năm 1951 có mặt ở trận Đèo Bông lau ; trong năm 1951 có mặt ở chiến dịch đồng bằng Liên khu 3, bi bắt trong chiến dịch Citron của địch ở Hải Dương, thoát khỏi trại giam, trở lại bộ đội, được cử sang Tàu học lục quân khóa 7. Trong việc kiểm thảo nhân sinh quan, Hãng bị nhiều đảng viên tấn công, nhưng Hãng thông minh, sáng suốt, trả lời lưu loát, mạch lạc, khiến ban lãnh đạo tạm ngừng kiểm thảo.
Người thứ hai đương đầu với ban lãnh đạo là Duy Hoàn, người có nhiều thành tích. Duy Hoàn bắt đầu kể tiểu sử của mình : mồ côi cha mẹ sớm, được người anh nuôi, tốt nghiệp trường canh nông, làm việc ở Thanh Hóa, thích kể chuyện ma nên được cảm tình nhiều người. Duy Hoàn vào bộ đội chiến đấu, truy kích binh đoàn Pháp trong chiến dịch Sông Lô, phục kích địch trên quốc lộ số 4, thuyên chuyển sang trung đoàn 42 để đặt mìn phá hoại đường số 5 cùng công đồn địch tại Hưng Yên, Hải Dương. Ở đâu Duy Hoàn cũng đi hàng đầu. Duy Hoàn được tặng Huy chương Chiến sĩ hạng nhất trước khi theo học lục quân khóa 7. Duy Hoàn đã từng chứng kiến cảnh người cộng sản thủ tiêu anh em Dân chủ đảng, cho nên Duy Hoàn chiến đấu cho kháng chiến chứ không cho cộng sản. Vì Duy Hoàn không phải là đảng viên, lại có tính nghệ sĩ nên bị đưa lên bàn mổ, bị chất vấn trong hai đêm. Không ngờ Duy Hoàn cao tay chơi trò đạo diễn cảnh thú tội vừa thủ vai tội phạm, sau khi thú hết tội lỗi của mình, Duy Hoàn lật ngược ván bài mà cho rằng những lời thú đó hoàn toàn sai bằng cách đưa ra những bằng chứng cụ thể và gọi tên những nhân chứng có mặt trong buổi hội thảo. Một tấn hài kịch làm cấp lãnh đạo mất mặt.
Sau đó, căn cứ vào những kết quả gây nhiều căng thẳng ở trường lục quân trong đó có nhiều vụ tự tử, Trung Ương Đảng bộ trong nước ra mệnh lệnh tạm thời bãi bỏ tam phản. Hãng cảm thấy bộ mặt kinh tỡm của những kẻ lãnh đạo Đảng, điều mà Duy Hoàn biết từ lâu.
Hiển nghe Kha kể chuyện lục quân khóa 7 như trên. Sở dĩ Kha không bị kiểm thảo là vì Kha không cha không mẹ, tham gia cách mạng sớm, ở khóa 7 Kha chỉ là người phụ trách văn nghệ, vẫn giữ những tôn chỉ của Đảng nên thoát khỏi « tam phản ». Kha nói khi còn ở trong nước tranh đấu cho Đảng tưởng mình tranh đấu cho dân tộc.
Hiển và Kha đồng ý kiến về Đảng. Hiển chống lại việc Đảng hy sinh tính mạng con người để bảo vệ « thiên đường Sô Viết », Hiển nhận xét Đảng có nhiều sai lầm. Kha tin Hiển vì Hiển chưa được kết nạp vào Đảng, và là một người tính tình ngay thẳng, không phải là một người phản bạn. Kha và Hiển bắt đầu thân nhau.
Về phần Hãng đã ý thức đường lối tráo trở của Đảng và trở nên nghi kỵ. Hãng được cử về nước, nhưng không lên Việt Bắc trình diện ở Bộ Tổng Tham mưu mà về ngay đồn điền Lợi Ký, giữa đường gặp Vân, em gái của Hãng, Vân cho Hãng biết ông Phán bị đấu tố vì bị kết tội là điền chủ nên ông treo cổ tự vẫn. Còn Mạnh, chồng của Vân trước kia là chủ tịch huyện Thanh Ba, được cử làm tỉnh ủy viên ở Hải Dương, mất tích trong chiến dịch Citron. Hãng cho Vân biết chính Hãng cũng bị bắt trong chiến dịch này, và Mạnh được thả trước Hãng. Sau khi gặp Vân, Hãng về Hà Nội thăm mẹ và Thi. Trước khi ông Phán bị nạn, bà Phán đưa Thi về Hà Nội chữa bệnh.
Hiển sau 3 tháng huấn luyện về bộ binh ở Phụng Minh Thôn được cử đến Mông Tự để được huấn luyện về pháo binh. Nhưng Hiển vờ ốm không đi Mông Tự. Còn Kha xin một công tác về nước sẽ quay trở lại.
Hiển và Kha lên đường cùng ngày, đường đi nhiều chặng : từ Phụng Minh Thôn đi Khai Viễn hết một ngày xe lửa, từ Khai Viễn đến Nghiên Sơn phải hai ngày đi bộ đường núi, thêm một ngày đến Si Kai nơi con sông Lô bắt nguồn, rồi cả hai đi lên đỉnh núi Cổng Giời, từ Cổng Giời đến cầu Thanh Thủy, qua cầu là sang biên giới quê hương, dọc theo hữu ngạn sông Gấm họ qua Bác Me, Pac Van, Đại Thi, tới Tuyên Quang họ vượt sông Lô về huyện Lập Thạch, nơi Hiển đến tìm Miên. Hiển và Kha đều thuộc quân đội cấp chỉ huy, có đầy đủ giấy tờ để di chuyển. Một tuần lễ sau quân y viện Lập Thạch mới biết Miên theo người anh mất tích. Một tháng sau ở Phụng Minh Thôn, viên thiếu tướng chỉnh ủy mới biết đôi bạn Hiển Kha đã về vùng Quốc gia.
Trong khi đó Hiển, Kha, Miên rời Lập Thạch, sang huyện Học Trì, lên Ngã Ba Lời, từ bến Lời đi thuyền một khúc sông, rồi lên đất liền đi 7 cây số, gặp đồn Bảo chính. Một ông lính bảo chính cười hóm hỉnh : « Các cháu bác Hồ phải không ? »
Khi chờ thuyền ở Bến Lời Kha nói : “Ba sinh hương lửa, ha ! Chúng mình thật là ba sinh hương lửa (…) Này nhé ! Hết Pháp thuộc đến Nhật thuộc rồi đến Việt Minh thuộc, thế chẳng là ba sinh hương lửa sao ?”




