Aug 9, 2008

NHẶT LÁ BÀNG ...


... Ở phía sau một góc bàng một cái bóng chạy ra. Tôi nhìn kỹ mới biết là một đứa trẻ vào trạc mười tuổi, đầu nó chít một cái khăn đỏ phủ kín hai bên má, áo nó rách để hở cả hai vai. Một ít lá rụng ở cuối phố . Đứa bé chạy vội lại, một con bé ở sau gốc bàng khác cũng chạy ra, rồi hai chị em - tôi đoán là hai chị em- chạy lăng quăng đuổi những lá bàng gió thổi lăn trên đường. Một cơn gió lạnh nổi lên. Lá rụng ào ào một lát đã đầy đường....









NHẤT LINH
Trích trong bài tựa quyển Đôi Bạn

Aug 7, 2008

ANH PAUL NGUYỄN & PACIFIC MACHINE COMPANY: KHI NGƯỜI CỰU SĨ QUAN CỤC TÂM LÝ CHIẾN TRỞ THÀNH CHỦ HÃNG TIỆN


Chắc hẳn nhiều người ở Mỹ cũng nhận thấy rằng nghề thợ tiện, tuy không đình đám nhưng nghề nail, nhưng cũng nuôi sống khá nhiều người Việt ở Cali, Texas. Tôi quen một anh bạn là nhà văn quân đội, sang đến Mỹ đi làm thợ tiện để sinh sống và… viết văn tiếp. Tôi có biết khá nhiều anh em kiến trúc sư ở Việt Nam, sang bên này lại đi học thành thợ tiện. Có thể là vì cái nghề lao động chân tay này học nhanh và không có nhiều cạnh tranh như nghề kỹ sư.

Để biết thêm về nghề thợ tiện, tôi hỏi thông tin và tìm đến thăm Pacific Machine Company, hãng tiện lớn nhất của người Việt tại vùng Quận Cam Nam Cali. Khi gặp anh Paul Nguyễn, CEO của công ty này, tôi nghĩ rằng chắc anh cũng là một kỹ sư cơ khí tốt nghiệp tại Mỹ. Nhưng không, anh chỉ là một cựu sĩ quan tâm lý chiến! Anh đã phải mất gần 10 năm vừa học vừa làm, cộng với ý chí của người lính để trở thành một chủ nhân ông trên đất Mỹ như ngày hôm nay…


Là một sĩ quan quân lực VNCH, tốt nghiệp K6-68 ngành tâm lý chiến, sau biến cố 30-04-1975, anh Paul đã trải qua 10 năm tù đày, và được thả vào năm 1985. Ra khỏi trại, anh tìm cách vượt biên và may mắn thóat được ngay trong lần đi đầu tiên. Đặt chân đến Mỹ vào tháng 10-1985, gia sản của anh chỉ có vỏn vẹn gần USD 20. Anh quyết tâm bắt đầu làm lại cuộc sống mới thật nhanh. Với kinh nghiệm làm việc trong ngành tâm lý chiến, cộng với vốn Anh Ngữ vững vàng do đã được đi tu nghiệp ở Mỹ, đã có bạn bè rủ anh đi làm báo. Tuy nhiên, anh Paul lại muốn có nghề nghiệp mới ổn định hơn. Anh nghĩ đến nghề thợ cơ khí, vì quốc gia công nghiệp phát triển nào cũng rất cần. Anh tìm được trên báo một công việc dành cho thợ khoan trong một xưởng cơ khí. Anh nộp đơn xin phỏng vấn và được nhận làm ngay.

Anh Paul vừa làm thợ khoan, vừa bắt đầu tự quan sát, học các công việc đòi hỏi trình độ cao hơn như set up (chuẩn bị máy, lưỡi cắt theo chương trình gia công), programer (lập trình cho máy vận hành tự động). Vận may đến với anh sau ba tháng khi kỹ thuật viên set up của xưởng nghỉ việc. Anh xin phép người chủ cho mình học việc để đảm nhận vị trí này. Anh được huấn luyện cấp tốc trong vòng 15 tiếng đồng hồ và bắt đầu làm việc set up, bước lên một nấc trong công việc của người thợ cơ khí.

Nhận biết programer mới là công đọan quan trọng nhất của một qui trình gia công cơ khí, anh Paul đặt mục tiêu mới là phải học để nắm vững công việc này. Anh nhờ tay programer của xưởng dạy cho mình cách lập trình sau giờ làm việc chính thức. Trong ba tháng trời, tiền lương kiếm được bằng công việc set up được anh dùng để trả cho phí học việc lập trình. Sau đó, anh đổi chỗ làm , tiếp tục công việc set up, nhưng xin người chủ cho mình lập trình gia công một số chi tiết đơn giản, free of charge! Trong vòng hai năm trời, ban ngày anh đứng máy, ban đêm về lập trình để đem áp dụng cho một số máy do mình vận hành. Sau hai năm vừa học vừa làm như vậy, anh đã nắm vững tòan bộ quá trình gia công cơ khí của một xưởng tiện. Giấc mơ làm chủ đã trở nên hiện thực hơn.

Đến năm 1994, với số vốn USD 11,000, anh Paul đã khởi nghiệp bằng cách mua một máy tiện CNC cũ, thuê mặt bằng đặt nó trong một hãng tiện lớn, ký hợp đồng gia công lại cho chính hãng này. Công việc phát triển khá nhanh, chỉ sau một năm anh đã mua thêm hai máy nữa. Anh Paul nhận thấy nếu chỉ dựa vào những hợp đồng gia công lại, con đường phát triển của mình sẽ phải lệ thuộc vào người khác. Nhưng muốn đứng độc lập, thì làm sao có được khách hàng, vốn tòan là những công ty Mỹ? Đứng trước bài tóan thị trường hóc búa, cái đầu chiến lược của một sĩ quan tâm lý chiến ngày nào bắt đầu phát huy tác dụng. Anh Paul tìm cách móc nối với Mike, một sales man người Mỹ, đang làm cho một hãng đang gia công cho Boeing. Anh đã đề nghị Mike hợp tác với một giao kèo “không thể từ chối”:
- Cả hai cùng đứng ra thành lập một công ty mới lấy tên là Aero Machining Company.
- Anh Paul lo tòan bộ phần lắp đặt nhà xưởng, vận hành kỹ thuật
- Mike đương nhiên có 50% cổ phần, chỉ với một công việc duy nhất: đem hợp đồng của Boeing về cho công ty.



Có thể nói đây là nước cờ chiến lược quan trọng nhất của anh Paul. Với sự hợp tác này, cánh cửa bước vào thị trường đã rộng mở. Boeing, gã khổng lồ của ngành hàng không thế giới đã trở thành khách hàng của công ty anh. Aero Machining Company đi lên vững mạnh với những hợp đồng lớn và ổn định. Việc tiến thêm một bước nữa- thành lập công ty độc lập do một mình anh làm chủ- chỉ còn là vấn đề thời gian. Vì Boeing đã biết anh Paul mới là người nắm tòan bộ công việc điều hành. Năm 1997, anh thành lập công ty riêng Pacific Machine Company. Năm 1999, Pacific Machine dời về trụ sở ở đường Trask như hiện nay, bắt đầu nhận các hợp đồng trực tiếp với Boeing. Người đàm phán và ký hợp đồng lúc này đã là anh Paul rồi. Anh nhớ lại lúc đó chỉ thuê được một nửa gian nhà xưởng, có 04 công nhân, anh phải đảm nhiệm luôn công việc programer, inspector . Còn bây giờ, anh đã làm chủ 04 gian nhà xưởng, trang bị khỏang 50 máy móc các lọai.

Dưới tay anh có khỏang 70 người thợ, 20 kỹ thuật viên set up, 05 programer. Hiện nay, Boeing vẫn là khách hàng duy nhất của Pacific. Tôi hỏi anh Paul: “Trên nguyên tắc, lệ thuộc vào một khách hàng duy nhất là rủi ro lớn trong kinh doanh. Anh có nghĩ đến điều này không?”. Anh cho biết thật ra Airbus cũng đã đề nghị các hợp đồng gia công với anh rồi, nhưng anh chưa nhận lời. Hiện nay chỉ làm với Boeing thôi, mà công việc đã nhiều lắm rồi.

Có một chi tiết quan trọng nữa là Pacific Machine đang gia công nhiều cho Boeing trong lĩnh vực quốc phòng. Do tính bảo mật và các yêu cầu kỹ thuật đều cao, cho nên các contractor đều được sàng lọc rất kỹ càng. Nhưng khi đã được chọn, công việc làm sẽ rất ổn định, vì những chi tiết máy trong ngành quốc phòng không thể đem ra ngòai nước Mỹ gia công được. Không sợ mất việc vào tay China như nhiều ngành nghề khác. Anh Paul cho biết anh đã từng gia công những part có giá trị lên đến gần USD 200,000 chỉ cho 01 sản phẩm! Còn có những chi tiết máy do yêu cầu bảo mật, anh phải hòan trả lại cho Boeing tòan bộ phoi kim lọai thải ra trong quá trình gia công. Nắm những hợp đồng quan trọng như vậy, anh Paul tự tin rằng mình vẫn còn là đối tác lâu dài của Boeing.

Năm 2007, Pachific Machine nhận được Quality Award của Boeing dành cho những contractor đứng đầu trong lĩnh vực chất lượng . Đây là một danh hiệu cao quí mà khoảng 36,000 contractor của Boeing đều muốn đạt được. Nó nâng uy tín của Pachific Machine trong ngành gia công cơ khí trên đất Mỹ lên rất nhiều. Khi được hỏi đâu là bí quyết thành công của mình, anh Paul trả lời: “ Work smart! And Think!”. Anh đã đem được những kỹ năng của người sĩ quan tâm lý chiến vào trong lĩnh vực kinh doanh. Những năm tháng cơ cực trong tù ở Việt Nam cũng có thể đã góp phần vào sự thành công ngày hôm nay. Lý lịch tù đày với chế độ cộng sản, sĩ quan quân lực đồng minh từng được đào tại Hoa Kỳ trước 1975… phải chăng những yếu tố này đã khiến Boeing tin tưởng giao cho anh những hợp đồng về quốc phòng? Cũng vì lý do đó, anh thấy mình vẫn còn nợ những người lính Cộng Hòa nhiều lắm. Nhân viên của anh hầu hết là con em của những gia đình HO. Trong công ty của anh có Phòng Sinh Họat Đấu Tranh dành cho các họat động đòi dân chủ nhân quyền cho Việt Nam. Anh tham gia vào rất nhiều các họat động xã hội giúp đỡ người thương binh Cộng Hòa.

Vì những lý do trên, nếu có dịp gặp anh Paul Nguyễn, bạn sẽ có cảm tưởng rằng bạn đang nói chuyện với một cựu quân nhân VNCH, chứ không phải với một nhà kinh doanh thành công trên đất Mỹ…

Đòan Hưng


Caption 1: Anh Paul đang kiểm tra lại máy trước khi gia công
Caption 2: Anh Paul kiểm tra lại một số thành phẩm trước khi xuất xưởng

Aug 1, 2008

Thư giãn Cali



















... zăng nghệ trong nhà


Xem show ngoài phố...




















... ngắm zời ngoài sân



Jul 31, 2008

Photography - Chút nắng sưởi mẹ


Chút nắng ....



... sưởi Mẹ .



Người mẫu : Mẹ Thảo

Jul 28, 2008

GÌN GIỮ TIẾNG VIỆT NƠI HẢI NGOẠI - Bố Sỹ

Thế hệ thứ 3 của Doãn Gia tại hải ngoại


Người xưa nói : “Tiếng Việt còn thì nước Việt còn!”.
Làm sao cho thế hệ trẻ nơi hải ngoại này không quên tiếng Việt, vẫn nói được tiếng Việt?
Thường thì sau thế hệ ông bà rồi cha mẹ, sang thế hệ thứ ba, đám cháu nội cháu ngoại, chúng hoàn toàn nói chuyện với nhau bằng Anh ngữ hoặc bằng một ngoại ngữ nào nơi chúng định cư.

Thoạt theo kinh nghiệm bản thân của tôi là khi chúng nói với mình bằng tiếng ngoại quốc , mình lờ đi như không hiểu gì, bắt chúng phải diễn đạt bằng tiếng Việt. Do đó chúng không hoàn toàn quên tiếng Việt – dù là phát âm trọ trẹ, hoặc có xen vào những từ ngoại ngữ.

Vấn đề này, gia đình con trưởng nữ của tôi hiện định cư tại Úc châu, đã giải quyết bằng một định luật của gia đình là : Con cái về đến nhà dứt khoát phải nói tiếng Việt trong mọi sinh hoạt với ông bà cha mẹ. Nhờ vậy, đám trẻ đã hoàn toàn diễn đạt được ý bằng tiếng Việt.


Vấn đề có thể còn được giải thích bằng cái nhìn lịch sử sâu xa hơn của dân tộc. Đã là một nước nhỏ lại ở vị trí ngã tư của các nền văn minh: từ phương Bắc xuống là áp lực của Trung Hoa; từ phương Tây sang thoạt là nền văn hoá Phật Giáo Ấn Độ, sau này, sang thời cận đại có thêm nền văn minh Âu Châu dưới thời Pháp thuộc. Thái độ khôn ngoan truyền thống của ông cha ta là giơ cả hai tay ra, ai cho cái gì cũng nhận, nhưng rồi sau đó ta hoá giải chúng: những gì hợp với mình thì đồng hoá chúng để làm phong phú nếp sống của mình, những gì không hợp thì xả bỏ! Nhờ vậy, ngày nay tiếng Việt càng thêm phong phú với những từ ngoại ngữ đã được Việt hoá.

Trên đây là đôi điều kinh nghiệm bản thân của chúng tôi trong việc duy trì tiếng Việt nơi hải ngoại.

Doãn Quốc Sỹ
Tháng 7 năm 2008

Bố Sỹ đang soạn bài để diễn thuyết

Jul 22, 2008

ANH CHÍN ĐÀM VÀ HÀNH TRÌNH CỦA MÓN HỘT VỊT LỘN VIỆT NAM SANG ĐẤT MỸ


Hồi còn ở Việt Nam, một trong những thú vui cuối tuần của tôi là “nhậu lai rai” một vài chai với bạn bè, tán gẫu để xả stress. Do đó, khi sang đến Mỹ, tôi để tâm tìm hiểu xem các món nhậu truyền thống của Việt Nam này tồn tại ra sao ở các khu người Việt. Riêng ở khu Little Sài Gòn Nam Cali, tôi thú vị nhận ra rằng một số món nhậu Việt Nam, trong đó có trứng vịt lộn, không chỉ “tồn tại” ở Mỹ mà lại có phần ngon hơn ở quê nhà! Tôi có nói nhận xét này với các bạn nhậu cũ ở Việt Nam, thì bị phản đối quá cỡ, vì ít ai tin được là những món ăn dân giã như vậy ở Mỹ lại dám qua mặt “hàng chính gốc”! Tôi bèn lần mò đến lò sản xuất Hột Vịt Lộn Long An, gặp anh Giám Đốc Chín Đàm để tìm hiểu công việc kinh doanh món ăn rất Việt Nam này ở Mỹ …

Anh Chín di tản sang Mỹ từ năm 75. Được một gia đình Mỹ gốc Nga ở Cộng Đòan Westminster bảo trợ, nên gia đình anh đã định cư ở khu vực Quận Cam Cali từ đó đến nay. Cũng như rất nhiều thanh thiếu niên Việt Nam thời đó, anh đi bỏ báo, rửa chén nhà hàng để kiếm sống trong thời gian trung học. Lên đại học, anh chọn ngành kinh doanh vì thích làm ăn buôn bán. Lúc đó, anh chưa nhận ra rằng chuyện kinh doanh ở Mỹ có thể gặp nhiều gian nan đến cỡ nào để đi đến thành công…

Anh Chín Đàm kiểm tra một lô trứng vịt lộn

Vào khỏang năm 90, anh Chín bắt đầu khởi nghiệp bằng việc mua bán, sửa chữa, cho thuê máy may. Vào thời đó, các gia đình Việt Nam đi diện HO sang bắt đầu đông, và rất nhiều người đã sinh sống bằng nghề may gia công. Công việc của anh Chín nhờ đó cũng phát đạt. Nhưng chỉ được vài năm, ngành công nghiệp may ở Mỹ có khuynh hướng chuyển sang Trung Quốc, Mễ Tây Cơ. Anh Chín phải nghĩ cách xoay chuyển ngành kinh doanh. Lúc đó anh quen một người Đức, có một lò ấp trứng gà, chuyên cung cấp trứng cho trường học làm thí nghiệm. Họ đề nghị bán lại cho anh business này với giá một trăm ngàn Đô La. Anh đồng ý mua lại vì trong đầu đã nghĩ đến chuyện làm thêm hột gà lộn để bán. Công việc kinh doanh này không phát triển mạnh lắm, bởi vì dân Việt Nam chỉ quen ăn hột vịt lộn thôi! Anh Chín giải thích: “ …Thật ra tôi thấy trứng gà lộn ngon hơn trứng vịt lộn. Ở Việt Nam mình chỉ ăn trứng vịt lộn là vì trứng gà mắc hơn trứng vịt, ăn riết rồi thành thói quen luôn. Bên Mỹ thì ngược lại, trứng gà rất rẻ mà trứng vịt thì lại tìm không thấy vì không có thị trường…”.

Đến năm 96, nhận thấy nhu cầu trứng vịt và vịt lộn cho hai cộng đồng người Việt, người Phi khá lớn, anh Chín quyết định mua lại một nông trại ở Ramona, tìm cách nuôi vịt để lấy trứng vịt bán. Trong 5 năm liền, công việc của anh gặp nhiều khó khăn vì anh chưa có kinh nghiệm nuôi vịt, nên vịt chết khá nhiều. Kỹ thuật ấp trứng vịt cũng có khác trứng gà, đòi hỏi thời gian để tìm tòi, rút kinh nghiệm. Vốn cứ mỏng dần do lợi tức chưa đủ bù đắp. Có lúc đã có người đề nghị anh bán lại nông trại, vì chỉ có miếng đất là còn giá trị. Nếu không đủ kiên trì, có lẽ anh Chín đã bỏ cuộc từ lúc đó…

Nhưng rồi vận may cũng đến cho những ai bền chí. Oái ăm thay, vận may của anh Chín lại có liên
quan đến thảm họa lớn nhất của nước Mỹ: ngày 09/11/2001. Số là sau sự kiện khủng bố kinh hòang này, cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ bắt đầu với một qui mô tòan diện. Chính phủ Mỹ cần một lượng khổng lồ các lọai vaccine mới để cung cấp cho quân đội. Nhu cầu này đòi hỏi một số lượng lớn trứng gà có trống, được các phòng lab sử dụng để cấy tạo vaccine. Do đã sẵn có kinh nghiệm trong lĩnh vực ấp trứng, cộng thêm sự hỗ trợ đắc lực của vợ anh vốn là một dược sĩ, các đơn hàng lớn đặt trứng từ chính phủ vào tới tấp. Công việc làm ăn của anh từ đó phất lên luôn. Anh có đủ vốn để đầu tư, hòan thiện lại khâu nuôi, ấp trứng vịt. Đến năm 2002, bên cạnh việc cung cấp trứng gà cho phòng lab, thị trường trứng vịt thường, trứng vịt lộn, trứng muối… phục vụ cho ăn uống cũng phát triển mạnh. Anh Chín cho biết thị trường trứng vịt cho cộng đồng người Phi chiếm gần phân nửa, tương đương với cho người Việt.

Trả lời câu hỏi liệu trứng vịt lộn ở Mỹ có ngon hơn Việt Nam hay không, anh Chín cho rằng có. Lý do đầu tiên là vịt ở Mỹ được ăn bắp nhiều (do bắp rẻ), cho nên nước trong trứng vịt lộn có vị ngọt hơn ở Việt Nam. Người sành ăn sẽ nhận ra sự khác biệt này. Kế tiếp, trứng vịt lộn ở Mỹ được ấp bằng máy, nên chất lượng được kiểm sóat tốt hơn, đồng đều hơn. Thí dụ như khách hàng yêu cầu loại trứng ấp mề ( 19-20 ngày), hay già (23-24 ngày) có thể yên tâm rằng tất cả trứng trong cung một loại đều có chất lượng như nhau.


Rồi vận may cứ tiếp tục tìm đến anh. Năm 2003, dịch cúm gà bùng nổ ở châu Á. Người dân Mỹ từ chối ăn các lọai trứng vịt nhập từ Trung Quốc, chỉ muốn trứng ở Mỹ thôi. Thị trường ngày một lớn thêm. Nông trại của anh Chín bây giờ đã vững mạnh, đa dạng . Anh bắt đầu mở rộng mặt hàng kinh doanh của mình. Anh nuôi gà, vịt, ngỗng, chim cút. Hiện nay anh đang cung cấp trứng và thiết bị ấp trứng cho hơn 200 trường học tại khu vực Orange County để các em học sinh thực nghiệm về life circle của quả trứng. Để mở rộng kinh doanh trong ngành lab, anh cho nuôi thêm chuột bạch, thỏ phục vụ thí nghiệm. Để mở rộng kinh doanh trong ngành ăn uống, anh cho trồng mía để làm nước mía bán. Anh giải thích lý do chọn mía là mặt hàng mới: nông trại đã có sẵn phân gia cầm để làm phân bón. Lý do kế tiếp là khi khí hậu nóng bức, thường lượng tiêu thụ trứng vịt lộn trên thị trường giảm hẳn. Lúc đó, mặt hàng thay thế hợp lý chính là nước mía giải khát. Như vậy là tạo sự cân bằng ở đầu ra. Một kế họach kinh doanh hết sức hợp lý.

Tôi hỏi anh Chín bài học tâm đắc nhất anh rút ra từ những thăng trầm trong kinh doanh của mình, anh trả lời giản dị: Người tính không bằng trời tính! Anh đã toan tính bao nhiêu trong thời gian đầu mà vẫn đâu có thành công. Đến lúc mọi chuyện suông xẻ, giống như Chúa Trời định hướng lại cho mình đi đến đích bằng con đường khác. Hãy làm hết sức mình, rồi để cho Chúa lo liệu. Anh có một niềm tin vững chắc vào Chúa Trời như vậy đó. Anh Chín là một thành viên tích cực của Cộng Đòan Westminster. Anh tham gia, đóng góp vào nhiều họat động từ thiện của nhà thờ, xem đó như là một hình thức chia xẻ lại hồng ân Thiên Chúa dành cho mình với những người kém may mắn hơn.

Đang nói chuyện, anh Chín xin lỗi tôi để trả lời một cú điện thọai gọi tới. Sau đó, anh vui vẻ giải thích : “ Tuần trước, tôi mua vé số để ủng hộ chương trình giúp đỡ các bệnh nhân cùi của nhà thờ. Cha mới gọi lại báo là tôi trúng lô độc đắc $2,000. Thánh Kinh có nói người giàu sẽ giàu thêm là vậy đó, anh ạ. Nhưng tôi đã nói với Cha rằng số tiền đó tôi để lại cho nhà thờ làm thêm những việc từ thiện khác…”. Chia tay với tôi, những người khách kế tiếp của anh là một nhóm các cha, sceur. Tôi đoán là lại để bàn bạc một chương trình công ích nào đó. Tôi nghĩ thầm: nếu tất cả các nhà kinh doanh thành công đều có tấm lòng giống anh, thì xã hội Việt Nam sẽ được nhờ lắm…

Đòan Hưng


Hột vịt lộn ở Việt Nam là một món ăn bình dân, bán trên hè phố

Nghệ thuật xếp hình - Anh Quân