May 9, 2008

1. Thảo Dung , ánh sao thầm lặng - Đoàn Khoa


Ngồi xem cuộn băng video mà đạo diễn Tất My Loan vừa tặng, tôi bồi hồi đến lặng người vì trong cuộn băng này, anh đã quay lại những cảnh tập dợt một trong những chương trình đầu tiên mà chúng tôi cùng làm cách đây gần hai mươi năm.

Những kỷ niệm thời thanh niên sung mãn ngày xưa, đột ngột trở về, mạnh mẽ, nồng nàn... cứ y như mới hôm qua.


Tôi nhớ ngay cái mùi hăng hăng trong hậu trường, cái ánh sáng nhờ nhờ của bóng đèn đường duy nhất lắp giữa sân khấu ở Nhà Hát Hoà Bình, được thắp lên trong mỗi buổi tập cho đỡ tốn điện, nhớ nhịp gõ trên sàn đi kèm miệng đếm của thầy Thái Ly, nhớ cái mâm xoay luôn luôn trục trặc...


Để có một đội múa thể hiện được những ý tưởng táo bạo, My Loan đã phải gom những thành viên từ nhiều nguồn khác nhau như ballet, múa dân gian, thể dục dụng cụ, nhịp điệu... thậm chí cả xiếc !


Không thể diễn tả được nỗi vui như thế nào khi gặp lại tất cả những “cố nhân” cùng một lúc, khi họ thanh xuân nhất, tinh anh và ... “ngây thơ” nhất !


Đó là những Kim Khánh, Phương Uyên, Thúy Uyên, Mỹ Duyên... mà giờ đây đã trở thành những nhân vật đầy ấn tượng trong sân khấu lẫn trên màn ảnh .

Thế nhưng tôi vẫn cứ nôn nóng kiếm tìm trong bao nhiêu khuôn mặt xa xưa một con người đặc biệt, một nghệ sĩ độc đáo: Thảo Dung.

Cô diễn viên vừa tốt nghiệp môn múa ballet ở Nga này như nàng công chúa trong câu chuyện cổ tích mà cặp mắt sâu đầy bí ẩn và biết nói đã khiến chúng tôi phải chú ý ngay từ lần gặp đầu tiên.

Hồi đó, tôi luôn ước ao giá như Thảo Dung xuất hiện trên các sân khấu cổ điển như nhà hát Bolchoi ở Nga, Opéra Garnier ở Pháp, hoặc ít ra Nhà Hát Thành Phố “của ta” thì tuyệt vời biết bao, đằng này cô phải múa minh họa trong những bài hát, các tiết mục tạp kỹ hết sức tầm thường.

Tội cho “Lọ Lem” thời còn khổ cực !

Thế nhưng trong loại hình có vẻ “quần chúng” ấy, đoá hoa vẫn thơm và viên ngọc vẫn tỏa sáng !

Dù bài múa dân gian nhà quê hay trong hoạt cảnh cung đình lộng lẫy, thậm chí ở các ca khúc bốc lửa dữ dội, Thảo Dung vẫn thành công một cách hoàn hảo vai diễn của mình.

Cô không “dị ứng” với cái mà nhiều người hay chê là “kém hàn lâm - không kinh điển” !

Một cô gái thanh thoát, mong manh như Thảo Dung lại có khả năng làm việc khủng khiếp ! Cô đúng giờ, xả thân, tập tành nghiêm túc và nhất là không làm phiền tới ai, như lời nói đùa của My Loan, cô có chiếc “đồng hồ của lòng tự trọng”.

Thỉnh thoảng chúng tôi “khen” nhằm động viên, cô khiêm tốn: - Ăn thua gì so với hồi tụi em học ở Nga, em quen như vậy rồi !

(Còn tiếp)

2. Thảo Dung , ánh sao thầm lặng - Đoàn Khoa


...
Nếu kể từ đầu đến cuối tất cả tiết mục mà Thảo Dung đã tham gia, chắc chắn không tài nào đếm hết được, ngay cả liệt kê những chương trình từ trước đến nay, vẫn là một danh sách dài dằng dặc.

Tôi hay nói đùa rằng chương trình ca nhạc nổi tiếng Duyên Dáng Việt Nam phải ghi Thảo Dung vào kỷ lục vì cô là người duy nhất xuất hiện từ lúc đầu tiên cho đến cái vừa rồi, không thiếu chương trình nào.

Tôi bỗng nhớ đến nàng Mỵ Nương trong “Duyên Dáng Việt Nam 5” mà tôi dàn dựng.

Trong không gian xanh thẳm, từ từ tối dần, năm luồng ánh sáng vàng mờ bất động, thẳng góc với mặt sàn sân khấu, sáu nhân vật gồm Mỵ Nương, Trương Chi, 3 nàng hầu và cô ca sĩ, họ “mộng du”, lững thững trên quĩ đạo của riêng mình, không ai gặp ai, chẳng ai thấy ai, ... như cõi đời buồn tênh, mênh mông của họ.

Chỉ có Thảo Dung mới thể hiện đầy đủ vẻ đẹp bên ngoài của nàng Mỵ Nương cùng tâm trạng đổi chiều từ cô tiểu thư xanh xao, vật vã khi nghe tiếng hát Trương Chi, đột ngột quay ngoắt, hững hờ, lạnh lẽo khi hai người chạm mặt.

...Sau này, làm những chương trình thời trang, dù biết Dung không phải “chân dài” thực thụ, tôi thích mời và luôn xếp cô trong vị trí quan trọng, ấn tượng nhất.
Với kỹ thuật múa điêu luyện, thấm sâu trong máu, một hình thể kiêu xa, quý phái cộng thêm sự nhạy cảm bẩm sinh, Dung vẫn tỏa sáng trong lãnh vực thời trang dù đó không phải sở trường của cô.

Có một năm nọ, trên tờ báo xuân Sài Gòn Tiếp Thị, người ta chọn Thảo Dung làm hình mẫu của cho một chương mục có tên rất hay “Nhan Sắc Sài Gòn”. Chính cảm xúc từ hình ảnh và tựa đề nói trên, tôi lấy lại tên này để đặt cho loạt chương trình văn nghệ sau đó nhằm tôn vinh cái đẹp dung dị, hiền hoà, nhưng hết sức sâu sắc của người miền Nam nói chung và dân Sài Gòn nói riêng.


...Cuối cùng, mong muốn của tôi cũng thành hiện thực.

Trên nền nhạc hòa tấu bài “Hạ Trắng” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, cùng với biên đạo Binh Hùng, chúng tôi đã dựng riêng cho Thảo Dung một tiết mục múa độc lập chứ không phải minh họa cho các ca sĩ đang hát.

Thanh thoát khác người, Thảo Dung với nhiều tấm lụa trắng mong manh buông rũ, trên tay cầm cành lá cọ khô hờ hững, cô và dàn múa như một đàn hạc gầy khắc khoải, mang nỗi buồn tung cánh bay xa.

Hình ảnh Thảo Dung trong những sáng tác của tôi như “Chân dung Nàng Thơ”, đó là sự xúc động về cái Đẹp thanh cao, thuần khiết, dù không chạm tới được nhưng luôn hiện hữu.

Trong “Hương Thời Gian” – Thảo Dung vai cô gái nhà quê, hong tóc ướt trong buổi trưa hè đầy tiếng ve sầu rền rã. Cô mơ màng và thong dong, đợi chờ một điều gì đó không định hình, một người tình nào đó chưa biết mặt.

Ở video clip “Bèo giạt mây trôi”, Dung là cô gái qua sông.
Trong buổi bình minh đầy sương sớm, có con bé ngây thơ bước xuống con đò.

Khi ra giữa giòng thì mặt trời lên cao, cô thành thiếu nữ mơ màng...


Lúc bước lên bờ, là cô dâu...


Rồi buổi hoàng hôn chập choạng, cô thành góa phụ, lặng lẽ ôm con, nặng nề đi trên con đường gập ghềnh, đầy đá sỏi và chông gai...


...Chỉ đến “Ngồi tựa mạn thuyền”, “Nàng Thơ” mới được hạnh phúc!


Trong clip ca nhạc này, Thảo Dung - cô gái thầm lặng, miệt mài, đem tất cả thế giới quanh cô, từ sông núi, ruộng đồng, đến đám nông dân và những con trâu lành chậm rãi... vào cùng một bức tranh thêu.

“Bức tranh đời” ấy bỗng đẹp hơn khi cô thêu thêm vào đó một người tình tưởng tượng !

Rồi vô ý, trong lúc mệt mỏi thiếp đi, cái khay đựng chỉ rơi xuống. Các cuộn chỉ màu tung tóe đầy sân, cô bừng tỉnh, vội vàng thu lượm lại...

Chỉ riêng có cuộn “tơ hồng” là thoát được lăn xa...

Nó đi qua ruộng qua đồng, qua sông qua núi... qua biết bao dặm đường để tới tận nơi mà “người trong mộng” đang ngóng đợi cô.

Thế là mỗi người giữ một đầu chỉ, họ lần quấn ngược tìm nhau...
...
Như tinh thần bài hát trên, tôi luôn mong cầu cho Dung được hạnh phúc !
...

Gặp lại Thảo Dung bây giờ, cô không còn là một thiếu nữ xa xăm, bí ẩn với một nủa ánh sáng còn nửa kia là bóng tối, mà là người phụ nữ đằm thắm, bình an bên chồng và hai nàng công chúa bé nhỏ xinh xắn.

Cô còn tự hào hơn khi khoe rằng mình hiện là giảng viên Trường múa với một thế hệ mới trong tay...

- Em đâu còn giống những nhân vật mà anh tưởng tượng, em già rồi ! – Dung nói

Với tôi, Thảo Dung lúc này vẫn vậy, cô tỏa sáng không chỉ trên sân khấu mà cả trong đời thường và thậm chí ngay lúc này, cô còn hơn lứa tuổi mười tám, đôi mươi.

Đây là một thứ ánh sáng thật lạ, nó không rực rỡ chói lòa như những luồng đèn “phô-lô” chiếu vào ca sĩ, mà thuần khiết, tinh tế và long lanh... y như ánh sáng phát ra từ một viên kim cương.

Chỉ có người nghệ sĩ đích thực mới có loại ánh sáng đó.

Đoàn Khoa
Tháng 04 - 2008

ẢNH ĐẸP - Đoàn Khoa







Người mẫu: Thảo Dung

May 7, 2008

1. ANH THỌ- CHỦ CHỢ Á ÐÔNG- VÀ GIẤC MƠ “CHỢ VIỆT NAM CHO KHÁCH HÀNG MỸ”

Ðến chợ Á Ðông ở Little Sài Gòn,
theo mô hình siêu thị Mỹ

Rất nhiều khách du lịch có nhu cầu đi xem một ngôi chợ của xứ sở mình đến thăm. Lý do là ở khu phố chợ, họ tìm hiểu được rất nhiều thứ sinh họat văn hóa của người dân bản xứ. Vào chợ, ta gặp dân địa phương trong cuộc sống bình thường. Xem họ kinh doanh mua bán, ta đoán được họ hành xử với nhau ra sao trong đời sống. Ta cũng thấy được thói quen ăn uống của người địa phương, một phần lý thú của bản sắc văn hóa.


Ðối với người Việt mình, chợ là một nơi chốn gần gũi. Ở quê nhà, chợ có mặt ở khắp mọi nơi để các bà nội trợ có thể đi bộ cũng ra đến chợ. Tên chợ là Chợ Hôm, chợ Chiều, chợ Âm Phủ… cũng cho thấy người Việt họp chợ …cả ngày. Khi người Việt sang đến Hoa Kỳ, thành lập các khu người Việt ở Bolsa, Houston… các khu chợ Việt Nam cũng được hình thành theo. Chỉ có điều chợ Việt Nam ở Mỹ không còn hình ảnh của các phiên chợ ngoài trời, buôn thúng bán bưng nữa. Ðó là các super market, theo đúng tiêu chuẩn của Mỹ.

Mục tiêu ban đầu của chợ Việt Nam là phục vụ đồ ăn, thức uống, hàng hóa cho nhiều người Việt chưa quen đi chợ… Mỹ! Nhưng dần dà, cũng như bao nhiêu business khác, mục tiêu của chợ Việt Nam vẫn là làm sao phải đi vào “main stream”, để bán cho cả người Mỹ tại địa phương, một thị trường lớn hơn rất nhiều.

Ta hãy cùng nghe và chia xẻ ý kiến với anh Thọ, ông chủ chợ Á Ðông khu Bolsa, câu chuyện về những ngôi chợ Việt Nam của anh chuẩn bị ra sao để bước ra thị trường Mỹ…
Anh Thọ vượt biên sang Mỹ năm 88. Bắt đầu tham gia vào công việc điều hành, quản lý chợ từ năm 2001, lúc đó là với chợ Á Châu. Ðến tháng 01 năm 2004, anh Thọ quyết định mua lại khu chợ 99 Ranch Market ở đối diện khu Phước Lộc Thọ, đổi tên thành chợ Á Ðông. Anh chính thức trở thành ông “chủ chợ” kể từ ngày đó.


Anh Thọ kể lại: “ Lúc tôi quyết định mua lại khu chợ này, mọi người bảo tôi điên! Không ai có thể tin được là tôi sẽ thành công trong thương vụ này…”. Khu chợ đang đi xuống dốc. Chỗ đậu xe rất hạn chế trong khu vực shopping này là một trở ngại khác. Nhưng kết quả sau cùng thì ai cũng đã thấy. Chợ Á Ðông đi lên vững vàng cho tới ngày hôm nay.


Bí quyết thành công là chỗ nào vậy? Ðầu tiên, anh Thọ cho điều chỉnh lại các mặt hàng cho phù hợp hơn với nhu cầu của người mua. Ít có ai biết rằng mặc dù là chủ chợ, anh Thọ vẫn phải trực tiếp chọn lựa, kiểm sóat chất lượng của từng mặt hàng bầy bán tại chợ của mình. “Nếu mình chưa hài lòng thì làm sao hy vọng khách hàng hài lòng nhận được?” Anh Thọ quan niệm như vậy. Anh quan tâm nhiều đến khuynh hướng ăn uống của người tiêu dùng. Thí dụ như khi nhận thấy khách hàng hiện nay có nhu cầu về các lọai thực phẩm organic, thức ăn dinh dưỡng, anh đưa các mặt hàng này vào chợ của mình ngay.

Bước kế tiếp, anh biến chợ Á Ðông thành “phiên chợ đêm” đầu tiên cho người Việt. Chợ mở đến tận 11 giờ đêm, phục vụ cho rất nhiều người đi làm về trễ, không thể đi chợ vào ban ngày. Chợ ban đêm chỗ đậu xe lại thỏai mái. Giá lại rẻ. Bingo! “Thượng đế” được phục vụ chu đáo đến vậy, chợ không đông sao được!


“Thừa thắng xông lên”, anh Thọ lần lượt cho mở các chợ khác trong hệ thống của mình. Tháng 10/2004, chợ Sai Gon Super Market ra đời tại ngã tư Brookhurst-Westminster. Tháng 4/2005 đến lượt chợ Ðà Lạt tại góc Euclid-Garden Grove. Sau cùng là tháng 12/2006, chợ Bakersfield khai trương, nằm ở khỏang 1/3 đường đi từ Little Sai Gon đến San Jose. Nhìn kỹ một chút về địa điểm, ta có thể thấy hướng đi của anh Thọ trong việc từng bước mở rộng ra thị trường Mỹ. Hai chợ đầu ở khu trung tâm người Việt, khách hàng Việt Nam chiếm tới hơn 90%. Ngôi chợ thứ ba, chợ Ðà Lạt, đã nằm ở ranh giới giữa khu người Việt và Mễ. Chỉ còn khỏang 60% khách hàng của chợ Ðà Lạt là người Việt. Con số này giảm xuống còn 30% đối với chợ Bakersfield.

(còn tiếp...)

2. ANH THỌ- CHỦ CHỢ Á ÐÔNG- VÀ GIẤC MƠ “CHỢ VIỆT NAM CHO KHÁCH HÀNG MỸ”

Chợ Việt nam ở quê nhà là một nơi chốn gần gũi,
với cảnh buôn thúng bán bưng…



Theo anh Thọ, chuyển hướng ra thị trường Mỹ là niềm mơ ước của nhiều ngành kinh doanh của người Việt, vì tiềm năng thị trường lớn hơn nhiều. Riêng trong ngành chợ, đó lại là qui luật tất
yếu trong tương lai. Chừng vài chục năm nữa, khi thế hệ người Việt thứ I và thứ II ra đi, thế hệ thứ III sẽ có nhiều thay đổi. Thế hệ trẻ sẽ không sống quây quần trong các “khu người Việt” như chúng ta ngày hôm nay, mà phân tán rộng ra vào các khu người Mỹ. Ngay bây giờ, thói quen ăn uống của chúng cũng đã khác. “ Cuối tuần, thử hỏi đám con mình muốn đi ăn phở hay McDonald, chúng sẽ chọn McDonald liền…”, anh Thọ nói vui như vậy. Do đó, chợ Việt nam sẽ không sống được nếu chỉ phục vụ cho người Việt. Khuynh hướng của chợ trong tương lai sẽ phải phục vụ cho khách hàng đa sắc tộc. Chợ Bakersfield đang là mô hình thí điểm của anh Thọ cho khuynh hướng này.

Nhưng mà thuyền lớn thì sóng lớn. Chợ Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với những đại gia thực sự, các hệ thống siêu thị khổng lồ của Mỹ với nguồn vốn rất lớn. Ðâu là thế mạnh trong kinh doanh của mình đây? Theo anh Thọ:
- Yếu tố giá là quan trọng nhất. Chi phí cho các siêu thị Mỹ thường rất cao, thường đòi hỏi một lượng khách hàng lớn thì kinh doanh mới hiệu quả . Chợ Việt có qui mô nhỏ hơn, chi phí vận hành tương đối thấp, do đó có giá cả rẻ hơn, sẽ cạnh tranh hơn nếu được điều hành tốt.
- Yếu tố quan trọng thứ hai là sự lựa chọn các mặt hàng bày bán trong siêu thị. Khi mình đã quyết định phục vụ cho khách hàng đa sắc tộc, mặt hàng của chợ mình cũng phải đa dạng, để khách hàng nào cũng có thể vào mua sắm được. Anh Thọ cho rằng mình vẫn nên giữ cái nền khách hàng chính là người Mỹ gốc Việt, gốc Á trước. Kế tiếp là người Mễ, vì họ có dân số rất đông tại Cali, được thêm cái thuận lợi là họ khá dễ tính. Sau đó mới là người Mỹ trắng…
- Sau cùng, nhưng cũng không kém phần quan trọng, chính là yếu tố về nhân sự. Ðể đi vào được thị trường Mỹ, mình phải có những con người thuộc thế hệ mới, có trình độ, nắm vững được cách kinh doanh, quản lý rất khoa học và hiệu quả của người Mỹ. Anh Thọ rất mong đám con cháu mình, sinh ra lớn lên ở Mỹ, sẽ là những người kế thừa cho công việc kinh doanh của anh trong tương lai.


Câu chuyện về chợ Việt Nam của anh Thọ ngắn gọn chỉ có thế. Hôm tôi đến chuyện trò với anh Thọ là vào buổi trưa. Anh đang dở dang bửa ăn trưa ngay tại văn phòng, đó chỉ là một hộp cơm. Tôi nói đùa với anh: “ Trời đất, ông chủ chợ Á Ðông mà phải ăn cơm hộp sao anh !?”. Anh cười đáp lại: “Thì giờ đâu mà đi ăn tiệm? Rủ được người quen đi chung là hết giờ rồi! ”. Chia tay với chúng tôi, chắc anh cũng không còn thì giờ để hòan tất bữa ăn nhanh ấy. Ông chủ của bốn ngôi chợ Việt Nam vẫn sống giản dị và dành nhiều thì giờ công việc như vậy đó. Bên cạnh sự nhạy bén, nhìn xa trong kinh doanh, tôi tin rằng sự siêng năng, không ngại khó vẫn là chìa khóa dẫn đến thành công của anh Thọ cũng như các nhà kinh doanh khác. Ðiều này không có gì mới, nhưng vẫn cứ là một bài học cần thiết cho thế hệ trẻ Việt Nam lớn lên trên xứ người…


Tháng 3 -2008
Đòan Hưng


Spring Seasons - by Doan Con Vit


PHỞ - by Đạo Hữu Năm Hưng



Ai là người Việt Nam, nhất là người Việt Nam đã từng làm chef ở Mỹ, thì việc nấu phở là một đề tài cần quan tâm.


Phở di cư vào Nam trong phong trào 54 cùng với các món lạ khác của người Bắc. Trước tiên là tiết canh, sau đó là phở. Nổi tiếng ở gần khu nhà tôi nhất là phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ.
Ba tôi là người sành ăn, thích thử món lạ. Buổi sáng ba đi làm sớm hay ghé “thử” món phở, đôi khi tôi được đi theo. Hồi đó tôi chưa có những nhận định như bây giờ, chỉ biết thay vì hủ tiếu thì đây là phở. Hủ tiếu thì ngoài bánh phở còn có tôm thịt; phở thì có thịt bò. Hồi đó phở Tàu Bay không hề có một cọng rau nào, chỉ có ớt, chanh và tương xay. Đi ăn phở tôi làm quen được vài từ ngữ mới: “vè, gân, sách, tái, sụn …” và loại “tô xe lửa” (tô lớn nhất) được phổ biến từ thập niên 60.


Cùng nổi tiếng với phở Tàu Bay có phở 79 ở gần nhà thờ Huyện Sĩ, phở Không Quân gần chùa Vĩnh Nghiêm, nơi mấy ông không quân trên đường về hay ghé ăn.


Thưở ấy ít nhà biết nấu cái món lạ này. Một vài gia đình người Bắc có tiết lộ với hàng xóm mỗi một món gia vị của phở là hồi (anis). Và cứ thế mà phở lan tràn đến năm 73, 74 thì trên đường đi Thủ Đức, Biên Hòa đều có tiệm phở dành cho những người đi làm ở vùng phụ cận. Những tiệm này phát triển rất nhanh vì kinh nghiệm cho biết nếu buổi sáng đi làm xa mà có tô phở nóng thì đường xa sẽ ấm vô cùng. Phở là điều kiện để ta chịu đựng tốt hơn.


Sau đó thì phở đã phổ biến khắp cùng. Phở còn bay sang các nước có người Việt Nam đặt chân đến. Mỹ là quốc gia có nhiều tiệm phở nhất; San Jose và Westminster là khu vực tập trung nhiều tiệm phở nhất. Cách thức nấu thì thiên hình vạn trạng, ai cũng tự nhận mình nấu phở gia truyền (ai biết?) Gia vị thì chỉ vài món: hồi, thao quả, gừng, hành, quế … và sau này thêm hạt ngò., thay đổi tùy theo người đứng nấu. Có người xay nhuyễn các vị đó để trong một túi vải rồi nấu với xương bò. Có người quẳng đại vô, có người nướng rồi xay nhuyễn bỏ trong túi vải. Tất cả đều dùng gần giống một công thức.


Ít ai nấu giống phở Tàu Bay, không có hồi. Ở Mỹ mà nấu phở không có mùi hồi thì thiên hạ chê, trừ những người đã từng thưởng thức chính gốc phở Bắc. Nước phở ở Mỹ đều trong vắt vi ai cũng biết công thức hầm xương để có nước trong: hầm nhỏ lửa và vớt bọt liên tục. Hầu hết các tiệm đều có rau giá đủ thứ, nếu không thì kể như không ai trở lại.


Riêng về các tiệm phở nấu ở vùng có nhiều người Mỹ ăn thì tôi được biết như sau: nước lèo (tạm gọi như vậy) đã được một công ty nào đó nấu sẵn, đóng thành cục đông đá với những gia vị có sẵn trong đó. Chỉ cần bỏ vào nồi, thêm nước rồi nấu sôi lên là bán. Thịt cũng y chang: đủ loại, lấy từ tủ đông đá trước một ngày, rồi cất bằng máy.


Tôi có người cháu ở Santa Monica làm giàu nhờ nghề bán phở, vừa rồi chuyển sang Arkansas và định mở cửa hàng phở thứ hai ở đó. Mùi vị phở loại này được người Việt dễ tính coi là “tạm”, người Việt ở châu Âu (điển hình là em tôi từ Đức qua chơi) coi là “ăn được”. Nhiều người Việt miền Nam rồi cũng đâm ghiền phở như họ đã từng ghiền hủ tiếu, ăn ngày ba lần vẫn được. Ghiền nhất là mùi hổi, mùi gừng và mùi hành. Với kinh nghiệm đứng bếp của tôi thì làm nên phở vẫn là ba gia vị này. Còn miếng thịt ở Mỹ thì vừa miệng hơn vì ăn không “ngại” lắm.


Tại Pháp tôi đã từng được thưởng thức phở 14 tại quận 13, Paris. Nghe đồn phở ở đây lẫy lừng; người Việt Nam bên các nước lân cận –Đức, Hòa Lan v..v…- khi ghé Paris vẩn đến ăn; chiều đến muốn có chỗ ngồi phải xếp hàng cả nửa tiếng. Dè đâu phở dở ẹt mặc dù cũng rau ngò rau quế đàng hoàng. Bánh phở thì là bánh khô ngâm nước. Giá cả thì gấp đôi bên Mỹ.


Trở về với chính quốc Việt Nam, sự khác biệt của phở các tiệm tinh tế hơn. Cái ngon của phở Tàu Bay khác với phở bà Dậu, khác với phở Hòa. Cái đậm đà mùi bò cũng khác theo từng tiệm. Cái lưỡi “Việt kiều” của tôi thích nhất vị đặc biệt của phở Tàu Bay cách điệu với đầy đủ rau và giá, thích nhì phở 24 Saigon tương tự như phở ở Mỹ.


Phở hiện nay vẫn là món ăn được người Việt sống ở Mỹ ưa thích. Bánh phở mềm và tươi ngon vô cùng. Rau giá lúc nào cũng có; thịt bò rất tươi và rất bổ dưỡng. Người sống ở đây nhiều năm rồi thì không quan trọng hóa vấn đề mùi bò nhiều hay ít, mà thường chú ý đến chất lượng thịt. Mỗi tiệm đều có người đứng nấu riêng nên tùy khẩu vị mà người ăn vừa ý hay không. Khó nói là tiệm này ngon hơn tiệm kia; quen tiệm nào thì thấy tiệm đó ngon, vậy thôi.


Ngày nay ở Mỹ cũng có nhiều gia dình nấu phở ở nhà. Nấu ở nhà thì gia giảm được gia vị theo ý của mình và nhất là tiết kiệm được rất nhiều. Ăn ngoài tiệm ba tô thì mua thịt bò và xương bò về nấu ở nhà được mười tô trở lên, với đầy đủ chất bổ dưỡng. Tuy nhiên, nếu ai cũng nói vậy, chẳng lẽ các tiệm phở đóng cửa hết hay sao?


Vài giòng về món phở của “đạo hữu” Hưng.