Mar 4, 2016

NGƯỜI MẪU CHÁU NGOẠI ÔNG SỸ

Ti cười mỉm 



Ti cười toe 
 


Ti làm việc ... quên cười 



WAKE UP TOGETHER - THE WAY OUT IS IN - Hưng Gàn



Kỳ trại họp mặt tại Nam Cali sẽ dành cho lứa tuổi thanh niên (17-38 tuổi). Chủ đề “Lối Ra Tùy Thuộc Đường Vào Nội Tâm” ( The Way Out Is In) là một lời nhắc nhở, và cũng là một định hướng cho con đường đi tìm hạnh phúc của giới trẻ ngày hôm nay trong xã hội Mỹ. Khi tìm cách đối phó với những khổ đau, tìm cách thoát ra khỏi những căng thẳng trong cuộc sống, chúng ta thường hướng tới những nguyên nhân bên ngoài, tìm cách thay đổi những tác nhân chung quanh ta. Chúng ta quên mất chuyển hóa chính nội tâm chúng ta mới đóng vai trò quan trọng nhất. “Cỗi nguồn cũng bởi lòng người mà ra”, tự xa xưa thi hào Nguyễn Du đã kết luận như vậy. Hãy thử trở lại với chính ta, nhìn sâu vào nội tâm ta để hiểu rõ chính ta nhiều hơn. Trong tâm thức của mỗi người đều có những hạt mầm hận thù, khổ đau, ganh tị… cũng như những hạt giống của yêu thương, tha thứ, hạnh phúc… Nếu chúng ta hằng ngày xem phim bạo lực, suy nghĩ theo hướng hận thù, thì những hạt giống đau khổ sẽ phát triển mạnh. Ngược lại, nếu ta thường xuyên suy nghĩ hướng thiện, nuôi dưỡng tình thương, thì chắc chắn hạnh phúc sẽ đơm hoa kết trái trong tâm của ta. Hạnh phúc đến từ bên trong chúng ta, chứ không phải chờ điều kiện bên ngoài thay đổi. Chuyển hóa được chính mình mới là điều quan trọng nhất. “The Way Out Is In” có nghĩa là vậy.

Wake Up là tên một phong trào dành cho thanh niên Phật tử và không Phật tử, do Thiền Sư Nhất Hạnh  phát động vào mùa hè năm 2008. Có thể tạm dịch là Thức dậy đi! Ý tưởng xây dựng phong trào bắt nguồn từ buổi sinh hoạt giữa Thiền Sư với trên 500 học sinh trung học ở thành phố Napoli - Ý mùa xuân năm 2008. Nhiều bạn trẻ tham dự rất tích cực, đặt những câu hỏi rất thực tế, tỏ ra khao khát học hỏi. Thầy đã khuyến khích thiền sinh từ hơn 40 quốc gia có mặt trong khoá tu về tổ chức tại nước mình những Đoàn thanh niên Phật tử (và Không Phật tử) phục vụ cho một xã hội lành mạnh và từ bi (Young Buddhists (and non-Buddhist) for a Healthy and Compassionate Society). Sự thực tập chính của Đoàn là Năm phép thực tập chánh niệm (Năm giới), và những pháp môn căn bản của Làng Mai, có tác dụng giúp chuyển hoá, chữa lành nội tâm, giúp các bạn trẻ vượt thoát những khó khăn, bế tắc của người trẻ trong xã hội hiện đại. Tập thể các thầy và sư cô trẻ của Làng Mai đã và đang yểm trợ và phong trào này tại các nước.

Harmony Pines Camp- nơi tổ chức trại Viet Wake Up tại Nam Cali- là một khu trại ở ngay vùng rừng núi Wrightwood, Mountain High, chỉ cách Quận Cam và Los Angeles hơn một giờ lái xe. Thiên nhiên an bình, thanh tịnh ở đây là một môi trường lý tưởng cho những trại sinh tìm lại sự tĩnh lặng của tâm, vốn thường bị cuộc sống bận rộn hằng ngày cướp đi mất. Các trại sinh ở tuổi thanh niên sẽ được hướng dẫn thực hành các phương pháp tìm hiểu nội tâm, nhận ra và hóa giải những mâu thuẫn trong nội tâm của chính mình. Khi bản thân mình đã tìm lại được sự an vui, hạnh phúc, thì mình mới có thể hiến tặng nó cho những người thân trong gia đình, cho bạn bè, cho xã hội.

Trại phí là $90 cho một trại sinh bao gồm chi phí ăn ở trong kỳ trại. Những thanh niên muốn tham dự trại họp mặt nhưng có khó khăn về kinh tế, có thể liên lạc với Thắng Nguyễn- trưởng ban tổ chức- để xin tài trợ: wkuplittlesaigon@gmail.com.

Để ghi danh tham dự kỳ trại họp mặt Viet Wake Up, xin vào trang web: http://vietwakeupoc.org/ , hoặc liên lạc với ban tổ chức: My Hanh Vu (info@bodhiyouth.org), hoặc Thắng Nguyễn wkuplittlesaigon@gmail.com,  714-722-8251

Mar 3, 2016

TIỂU BỘ KINH - CHUYỆN GIẢI THOÁT SỰ TRÓI BUỘC 1/2 - Đức Phật



120. CHUYỆN GIẢI THOÁT SỰ TRÓI BUỘC

(Tiền thân Bandhanamokkha)

Chỗ này kẻ ngu nói...,

Câu chuyện này, khi trú tại Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư đã kể về thiếu nữ Bà-la-môn Cinca. Câu chuyện này sẽ được kể trong Tiền thân Mahàpaduma, Chương mười hai (số 472). Lúc bấy giờ, bậc Ðạo sư nói:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay thiếu nữ Bà-la-môn này vu cáo Ta điều không có thật. Thuở trứơc, nó cũng đã vu cáo rồi.

Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát lớn lên trong gia đình một người cố vấn tế tự, và sau khi cha mất, Bồ-tát kế nghiệp chức vụ ấy. Lúc ấy hoàng hậu được vua cho một ước nguyện.

- Này Hoàng Hậu, nàng muốn gì, hãy nói lên.

Hoàng hậu nói như sau.

- Lời ước nguyện của thiếp không khó thực hiện. Từ nay trở đi Ðại vương không được nhìn một nữ nhân khác với con mắt luyến ái.

Ban đầu, vua từ chối, nhưng sau, bị nàng bức bách nhiều lần, không thể bỏ qua lời của hoàng hậu, vua phải chấp nhận, và từ đấy trở đi, vua không bao giờ nhìn một nữ nhân nào trong số mười sáu ngàn vũ nữ.

Rồi một cuộc nổi loạn khởi lên ở biên địa. Quân lính ở biên địa, sau hai ba lần giao chiến với các tên cướp, đưa tin về cho vua là họ không thể dẹp loạn được. Vua muốn đi đến đấy, liền tập họp một đội binh lớn, cho gọi hoàng hậu đến và nói.

- Này hiền thê, ta ra biên địa, tại đấy chiến trận đủ loại xảy ra, sẽ đưa đến chiến thắng hay chiến bại. Những chỗ ấy không thích hợp với nữ nhân. Hoàng hậu hãy ở lại đây.

Hoàng hậu nói.

- Thưa Ðại vương, thiếp không thể ở lại đây.

Khi bị vua từ chối nhiều lần, hoàng hậu nói.

- Vậy sau khi đi được mỗi dặm, Ðại vương hãy gửi một người về để hỏi thăm sức khoẻ của thiếp.

Nhà vua chấp nhận. Bồ-tát ở lại trong thành, còn vua ra đi với một đội quân lớn, cứ đi mỗi dặm, lại gửi một người về với trách nhiệm tin cho biết sức khoẻ của nhà vua và hỏi thăm hoàng hậu có được an lạc không. Khi có một người đàn ông đi về, nàng hỏi:

- Vua sai ngươi về có mục đích gì?

- Ðể hỏi hoàng hậu có được an lạc không.

Hoàng hậu bảo người ấy đến và sống phi pháp với nó. Vua đi đường được ba mươi hai dặm, gửi về ba mươi hai người, và hoàng hậu sống phi pháp với tất cả bọn họ.

TIỂU BỘ KINH - CHUYỆN GIẢI THOÁT SỰ TRÓI BUỘC 2/2 - Đức Phật




Sau khi dẹp loạn xong, bình định được quốc độ, trên đường về, vua cũng gửi về ba mươi hai sứ giả. Hoàng hậu cũng sống phi pháp với họ. Cho quân thắng trận dừng chân gần thành, vua gửi tin nhắn Bồ-tát sửa soạn thành phố để đón tiếp ngài.

Bồ-tát cho sửa soạn thành phố xong, mới sửa soạn cung điện để đón vua và đi đến cung thất của hoàng hậu. Hoàng hậu thấy thân thể của Bồ-tát tuyệt đẹp, không thể dằn lòng nổi, liền nói:

- Này Bà-la-môn, hãy đáp lại tình yêu của ta.

Bồ-tát nói:

- Chớ nói vậy! Hãy kính trọng vua. Tôi sợ điều bất thiện. Tôi không thể làm như vậy được.

- Sáu mươi bốn tên sứ giả đã không kính trọng vua, đã không sợ điều bất thiện, vậy ngươi lại kính trọng vua và sợ điều bất thiện sao?

- Thưa vâng, nếu họ suy nghĩ, họ đã không làm như vậy, nhưng vì tôi có biết điều phải, tôi sẽ không làm việc ác này.

- Ðừng nói bậy nhiều như vậy! Nếu ngươi không làm theo lời ta, ta sẽ bảo chặt đầu ngươi.

- Thôi được, dầu cắt đầu tôi trong một đời này hay trong trăm ngàn đời, tôi cũng không thể làm như vậy.

- Hãy để đấy, rồi sẽ biết tay ta.

Hoàng hậu đe dọa Bồ-tát, rồi đi vào trong phòng của mình, lấy móng tay cào trên thân, lấy dầu thoa tay chân, mặc áo dơ bẩn vào, giả bệnh và cho gọi các nữ tỳ:

- Nếu vua có hỏi hoàng hậu ở đâu, thì trả lời hoàng hậu bị bệnh.

Trong lúc ấy Bồ-tát đi đón vua. Sau khi đi vòng quanh thành phố, vua ngự lên cung điện, không thấy hoàng hậu, liền hỏi hoàng hậu ở đâu. Khi được trả lời hoàng hậu bị bệnh, vua đi vào phòng hoàng hậu, xoa lưng hoàng hậu và hỏi:

- Hoàng hậu đau bệnh gì?

Hoàng hậu im lặng. Khi vua hỏi lần thứ ba, hoàng hậu nhìn vua và nói:

- Thưa Ðại Vương, nay Ðại vương còn sống, nhưng nữ nhân như thiếp cần phải có một người chồng.

- Ái khanh nói gì lạ vậy?

- Ðại vương đặt địa vị cố vấn tế tự ở lại giữ thành, nó lấy cớ là sửa sang nội cung, đến đây, và vì thiếp không làm theo lời nó, nó đánh đập thiếp cho thoả mãn ý của nó rồi bỏ đi.

Vua đùng đùng nổi giận, như muối và đường bỏ vào lửa, vụt đi ra khỏi cung phòng. Vua cho gọi các người gác cửa, các lính bộ binh đến, bảo họ bắt Bồ-tát ngay, trói cánh tay ra sau lưng như người bị xử án chém, rồi dẫn ra khỏi thành, đến pháp trường xử trảm. Họ đi thật mau, trói cánh tay vị cố vấn tế tự ra sau lưng và cho đánh trống báo tin có hành quyết. Bồ-tát suy nghĩ: "Như vậy nhà vua đã bị hoàng hậu độc ác đầu độc trước rồi. Hôm nay, ta phải cứu ta khỏi tai ương này với sức của mình". Vì thế, Bồ-tát nói với những người lính:

- Trước khi các người giết ta, hãy đưa ta yết kiến vua.

- Ðể làm gì?

- Vì ta là người phục vụ vua, đã làm được nhiều công việc. Ta biết tài sản chôn dấu rất nhiều. Chính ta quản lý đất ruộng nhà vua. Nếu ta không gặp vua, thì nhiều tải sản sẽ bị tiêu diệt. Sau khi ta nói cho vua biết gia sản của vua, các ngươi hãy làm bổn phận của mình.

Họ đưa vị cố vấn tế tự đến gặp vua. Vua thấy vị ấy liền nói:

- Này Bà-la-môn, ngươi không xấu hổ đối với ta sao? Sao ngươi lại làm ác hạnh như vậy?

- Thưa đại vương, tôi sinh ra trong gia đình Bà-la-môn thượng lưu. Từ trước đến nay, tôi không sát sanh ngay cả một con kiến. Từ trước đến nay, tôi không lấy của không cho, ngay cả một cọng cỏ. Từ trước đến nay, tôi không nhìn đến một nữ nhân của người khác với con mắt luyến ái, dù chỉ một cái liếc mắt đưa tình. Từ trước đến nay, tôi không nói một lời nói dối, dầu chỉ để đùa vui. Tôi không có uống rượu, dù chỉ một giọt bằng ngọn cỏ Kusa. Tôi hoàn toàn vô tội đối với đại vương. Nhưng hoàng hậu độc ác kia đã cầm tay tôi với tâm tư đầy dục vọng, nói toạc cho tôi biết ác hạnh bí mật của mình trước khi đi vào cung phòng. Trước tôi đã có sáu mươi bốn người sứ giả đến đây, đem theo thông điệp của đại vương gửi hoàng hậu, những người ấy đều có tội. Hãy gọi họ đến đây và hỏi từng người trong bọn họ có làm như hoàng hậu đã bảo hay không.

Vua cho gọi sáu mươi bốn người kia và hoàng hậu đến và hỏi họ có làm như hoàng hậu đã bảo hay không. Họ thú nhận có làm. Nhà vua sai trói họ lại và ra lệnh chặt đầu cả sáu mươi bốn người ấy. Ðến đây, Bồ-tát thưa:

- Thưa đại vương, những người này không có tội! Chúng chỉ làm theo sở thích của hoàng hậu. Chúng vô tội, vậy hãy tha cho chúng! Còn hoàng hậu cũng không có tội. Tánh dâm dục của hoàng hậu không bao giờ thoả mãn, sanh ra đã như vậy rồi! Hoàng hậu chỉ làm thuận theo bản tánh của mình thôi! Do vậy, hãy tha thứ cho hoàng hậu.

Như vậy, bằng nhiều cách, Bồ-tát làm cho vua hiểu rõ sự việc, cứu mạng sống sáu mươi bốn người ấy và bà hoàng hậu ngu si, và xin vua ban cho họ những trú xứ để ở. Sau khi tất cả mọi người được giải thoát và được cho chỗ ở, Bồ-tát đến vua và thưa:

- Thưa Ðại vương, lời nói buộc tội không căn cứ của kẻ ngu si và đui mù làm cho các bậc hiền trí bị trói vào chỗ không xứng đáng, bị trói quặp cánh tay sau lưng; còn lời nói của bậc hiền trí là nguyên nhân khiến kẻ ngu si thoát khỏi bị trói tay sau lưng. Như vậy, lời kẻ ngu trói buộc một cách không thích đáng, còn lời nói bậc hiền trí thời giải thoát các trói buộc.

Nói vậy xong, Bồ-tát đọc bài kệ này:

Chỗ nào kẻ ngu nói,
Chúng trói kẻ vô tội,
Chỗ nào bậc trí nói,
Cứu thoát kẻ bị trói.

Như vậy, bậc Ðại Sĩ với bài kệ này, thuyết pháp cho vua và nói:

- Tôi gặp sự đau khổ này là vì còn sống đời gia đình. Nay tôi không có công việc gì trong gia đình nữa. Hãy cho phép tôi được xuất gia.

Sau khi được phép xuất gia, từ bỏ bà con thân thuộc, từ bỏ tài sản lớn, Bồ-tát làm bậc tiên nhân du sĩ, sống ở Tuyết Sơn, đạt được các thắng trí và Thiền chứng và tái sanh lên cõi Phạm Thiên.

*

Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân như sau:

- Thời ấy bà hoàng hậu độc ác là thiếu nữ Bà-la-môn Cinca, vua là Ànanda, còn vị cố vấn tế tự là Ta vậy.

1. TÁM VỊ BỒ TÁT - HƯƠNG - Ngô Thùy




HƯƠNG

Ký ức của tôi về lần gặp gỡ đầu tiên là một hồi ức không hoàn hảo – có lẽ vì tôi đã không chuẩn bị tinh thần để được thấy mình sắp rẽ vào một nẻo đời khác, đi vào một thế giới khác, bỏ lại cuộc đảo điên mà mình đang sống.  Do đó tôi đã bước vào nhà Bác như một tình cờ không định trước.  Nhưng tới nay trong tiềm thức tôi vẫn còn lắng đọng vẻ khả ái của bé Hương, con người bé nhất nhà, trước khi Tí Ti và Tiny ra đời, và cũng là người được yêu chiều nhất sau Tí Ti và Tiny.

Đó là một buổi trưa hè.  Theo lời mời của Thái, bạn thân của nhà tôi, chúng tôi cùng đi trốn cái nắng gắt gay của hè phố chợ trời, về ẩn náu vài giờ trong “ngôi nhà ở xóm chùa.”

“Ngôi nhà ở xóm chùa” có một bề ngoài nhỏ bé, tầm thường, nằm lẫn vào giữa các ngôi nhà lao động khác.  Nhưng cái mỗi lần đến về sau này, tôi lại thấy nó đáng yêu hơn, ngộ nghĩnh hơn, kỳ lạ hơn.  Một ngôi nhà nằm giữa xóm lao động mà có những bức tranh tuyệt diệu: “Tiếng Hát Tự Lòng Đất” – tranh sơn dầu của Võ Đình, mang những màu sắc độc đáo, những màu mảnh mà sắc, mỏng mà đậm, vừa huyền ảo vừa tương hợp với một chapter sách cùng tên của Bác.  Bức tranh mộc bản vẽ một cây cổ thụ cỗi rễ kỳ quái.  Những bức sơn dầu khác của Ngọc Dũng, Đinh Cường.  Sau này dưới bàn tay trang trí của Vinh, mỹ thuật gia trong gia đình, căn phòng càng trở nên rực rỡ ấm cúng hơn với lớp thảm cói màu lục đậm, những bình hoa được xếp đặt theo bố cục độc đáo trở nên linh động tuyệt vời dưới ánh đèn màu vàng ấm áp.  Tuyệt vời hơn nữa là tiếng hát của chúng tôi hài hòa vào với nhau với bầu không khí trang trọng mà trữ tình, trở nên những âm thanh bất tuyệt trong ký ức. 

Buổi trưa hôm ấy, ra mở cửa cho chúng tôi là một cô bé – thật nhỏ bé.  Trong bóng tối lờ mờ mát mẻ rất đặc biệt của phòng khách, một đôi mắt tròn mở to, tuy ngạc nhiên nhưng vẫn niềm nở, chiếc miệng xinh ân cần lời chào, và vóc dáng nhỏ bé nhanh nhẹn dẫn đường.

Vì đến vào giờ cơm nên tôi rủ Hương, tên cô bé, dẫn tôi sang chợ mua thêm ít thức ăn.  Sau khi “can thiệp” không xong, Hương đành dẫn tôi đi chợ.  Dọc đường tôi bắt đầu tán chuyện:
-       Năm nay chắc Hương học lớp tám rồi há?

Lúc đó nếu là bây giờ chắc Hương sẽ đáp:
-       Dạ, đúng là em đang học lớp tám, nếu như em đừng có … đang học lớp mười.

Nhưng may thay cô bé chỉ cười, hóm hỉnh nhìn tôi:
-       Dạ không, em học lớp mười ạ.

Vậy mà tôi còn cố ngớ ngẩn buông một câu:
-       Ủa, vậy mà chị cứ nghĩ nhiều lắm là Hương chỉ mới học lớp tám ấy chứ.  Tại chị thấy Hương nhỏ chút xíu hà.
Hương đáp dễ thương:
-       Dạ, đúng là em nhỏ con thiệt.  Nói cho rõ ra là em hơi lùn.  Vì vậy mà cả nhà cứ kêu em là “Ột dzịch” hoài à.
Tôi đã toan hỏi “Ột dzịch” là cái gì, thì vừa may đi tới trước hàng trứng. Để gỡ quê, tôi hỏi:
-       À hay mình mua ột dzịch về chiên ăn nha? Hương có ăn được trứng không?

Đưa mắt nhìn khu chợ vắng tên chỉ còn có … rác, Hương tủm tỉm:
-       Giờ này mình cũng đâu có được chọn gì khác.  Người ta về hết trơn rồi. 

Thế là chúng tôi xách nửa chục trứng về nhà.  Tôi được Hương dắt vào bếp và gặp chị Liên ở đó.  Trong ánh sáng lờ mờ của nhà bếp và cũng là phòng ăn, tôi thấy một khuôn mặt trắng mát ngửng lên cười với tôi một nụ cười ân cần.  Đó là má Liên của các con tôi sau này.

Bữa ăn dọn ra khá đơn sơ, vì hai bác đi vắng nhà, một phần vì lúc ấy chị Thanh chỉ mới vừa đi “lọt” và bác tôi cũng chỉ mới “hạ sơn” chưa bao lâu nên nền kinh tế quốc dân không được dồi dào cho lắm. 

Hương vừa lên tiếnt “ới” nhà tôi và Thái đang ngồi đấu láo trên phòng khách, thì từ cửa bỗn đi và một anh chàng nho thó.  Chàng ta xăm xăm đi đến bàn ăn, tay hất mớ tóc loăn xoăm trước trán, khẽ gật đầu lạnh nhạt đáp lại cái chào của tôi rồi ầm ĩ kéo gế ngồi vào bàn luôn:
-       Xong chưa bà Liên, tui đó bụng lắm rồi đây nè.
Và cứ thế anh chàng bắt đầu hoạt động lia lịa với chén cơm và đôi đũa mặc dù thuận tay trái.  Thỉnh thoảng tôi lại bắt gặp đôi mắt to có lớp mí dày cộm liếc sang (dường như chàng ta muốn canh chừng xem có bị tôi xơi tranh nhiều cơm không thì phải.)  Tôi suýt phá lên cười và toan chọc tức bằng cách ăn đua theo anh chàng, nhưng tự lượng sức mình trước lối tấn công vũ bão ấy, tôi đành giả vờ ăn nhỏ nhẹ cho xong.  Đó là chú Hưng của Tiny, mà ngay trong buổi sơ kiến đã tỏ ra cực kỳ niềm nở như vậy.

Trong bữa ăn còn có một nhân vật đặc biệt khác mà tôi cứ đinh ninh là anh cả, mãi sau mới biết là em của cả chị Liên lẫn Thái.  Đó là Vinh – một anh chàng cao lớn nhưng lời ăn tiếng nói thì lại hết sức ngọt ngào nhỏ nhẹ, cử chỉ đầy vẻ bặt thiệp và tế nhị.  Vừa lịch sự mời chúng tôi, anh chàng vừa khéo léo điều khiển cánh tay dài thòng ra gắp thức ăn rất chính xác, đặt biệt thiệp nghệ với các mục tiêu tên gọi “thịt nạc”. 

Cô bé Hương là dễ thương nhất, vừa ăn vừa rủ rỉ trò chuyện với tôi.  Còn chị Liên thì ngồi ở đầu bàn bên kia chỉ huy buổi tiệc.  Ăn xong, tôi lại trổ tài miệng lưỡi thuyết chị Liên cho phép tôi được cùng rửa chén cho nó vui.  Tôi phải cố rửa thật sạch dù ở nhà tôi vẫ rửa dối thấy mồ, để chị Liên ít ra cũng không thấy ân hận vì đã cho tôi cùng rửa bát.  Dọn dẹp đâu đó xong xuôi, chúng tôi vác chiếu trải giữa phòng khách, tôi, Hương, chị Liên ngồi tán gẫu.  Các đấng nam nhi thì thượng tọa trên salon với đủ kiểu lười biếng.  Chợt Thái đang ngồi ngoẹo đầu nói gì với nhà tôi, bỗng nhỏm dậy bảo Hương:
-       Ê Hương, anh quên, chị Thuỳ hát hay lắm đó nhen.
Lập tức Hương quay sang tôi:
-       Hay quá! Há đi chị Thùy!  Hát cho tụi em nghe với.

Dĩ nhiên lúc ấy tôi còn phải “pha màu” chút chút cho đúng thủ tục nhập môn rồi mới hát chứ.  Chỉ tội nghiệp Hưng, anh chàng chẳng có vẻ hào hứng tí nào.  Vừa uể oai gẩy nhẹ vài nốt trên cần đàn, Hưng vừa hỏi tôi định hát bài gì.  Tôi mỉm cười nhìn Hưng rồi bắt đầu hát.

Rất may cho cả tôi lẫn Hưng là tôi đã tìm thấy sự thoải mái ngay trên những nốt đệm đầu tiên  Đó là cái duyên đầu tiên của chúng tôi ở nhà Bác.  Ai đã từng hát sẽ hiểu được cảm giác ấy, có khi vừa hát vừa buồn ngáp vì cây đàn chạy một đằng, giọng hát đi một nẻo, có khi lại hát quên thôi vì tiếng hát quyện theo tiếng đàn, tiếng đàn lại nâng tiếng hát.  Tôi cho rằng về phía người đàn cho kẻ khác hát cũng tương tự như vậy.

Thế là mở xong cánh cửa tri âm.  Chúng tôi thi nhau mà hát như để “khoe” cái điểm hội tụ của nhau, bởi vì thật sung sướng, những bản nhạc chúng tôi chọn đều thật hợp với sở thích của nhau, kể cả các sáng tác riêng của Hưng hay của anh Hiếu, chồng chị Liên mà tôi mới được nghe lần đầu.  Giữa phút entr’acte đầu tiên, Hương reo lên:
-       Thích thật, chị Thùy há toàn những bài cả nhà em đều thích, thế mới chết chứ!
Nhưng giọng hát của tôi thì ăn nhằm gì, bạn biết thừa đi rồi và nghe chán đi rồi.  Tôi chỉ muốn nói đến giọng hát cua Hương.  Cái chất lơ lửng độc đáo của giọng hát Hương lúc ấy như trái xanh mơn mởn trên cành, nó vừa hồn nhiên, vừa độc đáo, vừa hứa hẹn một trái chín chua chua ngòn ngọt (chứ không phải chín mọng, vì chín mọng sẽ mau chán vô cùng) đầy quyến rũ đến sau chót.  Bấy giờ nó chưa được tròn trịa, chắc nịch như bây giờ nhưng đã đầy tự tin và có cá tính rõ rệt khó mà lẫn được với ai.  Đặc biệt tôi thích nhất khi Hương hát bài “Chú Cuội” của Hưng gàn.  Đó là bài hát đầu tiên mà Hưng viết, chính tên là “Bài Ca Thu”, nhưng không hiểu sao tôi cứ ngoan cố gọi nó là “Chú Cuội”.  Có lẽ vì tên ấy hợp với Hương hơn, hợp với vẻ hồn nhiên của cái cô bé trong bài hát khi bỏ rơi chú cuội giữa trời để đi tìm mộng mơ thơ thẩn ở dưới … đất.  Bé Hương của chúng tôi ngày đó là như vậy -  một cô bé khi biết chúng tôi đến chơi mà chưa ăn cơm chiều cứ xếp góc tờ giấy mười đồng nhét mãi vào túi tôi để bắt vợ chồng tôi phải đi ăn mì (đi ăn mì là một hành vi thường xảy ra lúc bấy giờ của chúng tôi, có khi kéo nhau đi cả lũ vì nịnh được Han-xơ hay anh Hai, có khi xé lẻ, hôm nay “đứa này” bao đứa kia, hôm khác “đứa kia” bao lại, vậy đó.)  Đó là vào khoảng một tháng sau ngày quen biết.  Lúc ấy bé Hương hẳn nghĩ rằng mình hạnh phúc hơn chúng tôi, vì chẳng những bé đã được ăn chiều, lại còn được dự cuộc chơi (hôm đó là một buổi dạ hội văn nghệ khá hay), trong túi lại có những mười đồng.  Cho nên bé bèn nghĩ là mình có bổn phận phải san sẻ cho chúng tôi phần hạnh phúc cụ thể nhất là mười đồng đó.  Thật không có cách gì từ chối trước đôi mắt van nài và cái miệng có chiếc cằm lẹm đang dỗi ấy.  Thành ra vợ chồng tôi đã buộc “phải” ăn một bữa mì, bữa mì ngon mãi đến bây giờ!

(Còn tiếp) 


Mar 2, 2016

1. TÁM VỊ BỒ TÁT - HƯƠNG - Ngô Thùy



Thế mà thấm thoát đã bốn măm.  Chặng đường dài thật!  Ngay cả với chính tôi là kẻ đã khá chai lì với những biến cố trong cuộc sống, mà khi nhìn lại tôi còn cảm thấy quãng đời đó thật là lắm chuyện, thật biết bao nhiêu vui buồn.  Huống chi là với Hương.  Thế hệ của Hương, nhỏ hơn tôi chỉ có bảy tuổi thôi, đã là một thế hệ khác hẳn.  Bởi vì mới có mười tuổi thôi là đã gặp phải một hệ thống rào cản buông khắp các ngả đường đi đến tương lai.  Mười sáu tuổi mới được dịp đặt chân vào thế giới của văn hóa thật sự, của những sinh hoạt tinh thần chân chính.  Và mười chín tuổi, đang ước mơ tung cánh bay xa thì lại sừng sững buông xuống bức màn tù ngụ trước mặt.  Hương đã phải chịu thiếu vắng bóng mát của cha suốt gần bốn năm thơ ấu, đồng thời còn cam chịu cả cảnh nghè từ trên trời rơi xuống.  Còn may làm sao đến năm mười lăm tuổi, Trời Phật đã thương đem cha trả về cho bé, lại phù hộ cho chị Thanh được đi thoát với sứ mạng người dẫn đạo trên con đường đến Đất Hứa của cả gia đình.  Kể từ lúc đó, dưới sự giáo dục, khai hóa trầm lặng mà thấm nhuần của cha, người cha đầy Phật tính, dưới sự đùm bọc của người chị Cả từ phương xa.  Hương mới được làm quen với một cuộc sống tinh thần đầy ý nghĩa, tắm gội trong một không khí đầy tình người. 

Phải nói thêm rằng bé Hương có nhiều diễm phúc hơn các bạn gái cùng lứa tuổi, vì đã được lớn lên trong không gian ấy, trong cái chu vi “ngôi nhà ở xóm Chùa “ nhỏ bé mà mênh mông yêu thương, mà mầu mỡ phù sa văn hóa, chất phù sa dùng để nuôi lớn con người, một tiến trình “thụ nhân” thực sự chớ không phải là chính sách trồng lên “cây người” được lên dây thiều theo từng giai đoạn.  Sinh hoạt nào của chúng tôi cũng có hai mặt bổ ích: vừa giải trí, vừa học hỏi.  Các lớp sinh ngữ “chùa” do cô giáo Khánh tận tụy.  Các cours “Đại Học bỏ túi” cung cấp những kiến thức Bách Khoa, các khảo luận văn chương, nghệ thuật.  Các lớp dạy cắm hoa vô cùng bổ ích vì đã phát giác ra những “nhân tài” bất ngờ trong nghệ thuật cắm hoa, mà đặc biệt hơn nữa đó lại toàn là phái yếu (tức là nam giới ấy mà – như anh Hai, Vinh, và ba xấp nhỏ ở nhà nữa).  Các kiến thức và tri thức cũng như những cảm quan thẩm mỹ được ươm mầm nẩy hạt khiến chúng tôi càng ngày càng thấy mình khinh khoái hơn giữa thế cuộc u trầm.  Những buổi họp mặt văn nghệ là cả một hạnh phúc, hạnh phúc được náo nức chuẩn bị, hạnh phúc được tham dự, hạnh phúc hơn nữa là sau khi đêm vui đã tàn, chúng tôi vẫn còn ở lại “vui nán” để bàn tiếp những phác họa cho cuộc vui sắp tới.  Cuộc đời tràn đầy niềm vui.

(còn tiếp)


1. TÁM VỊ BỒ TÁT: HƯƠNG - Ngô Thùy



Tất nhiên hạnh phúc hơn cả vẫn là Hương.  Bởi vì dù nói sao đi nữa, mỗi người chúng tôi khi từ giã ngôi nhà ấy đều phải bước trở vào đời, cuộc đời rất đời, với đủ thứ bùa phép mà người ta tung ra để “đấu tranh sinh tồn” với nhau. Riêng Hương vẫn giữ nguyên tâm hồn măng tơ, tuy mở mắt nhìn thấy cảnh đời bôn ba đó, nhưng đời của kẻ khác chứ không phải đời của mình.  Hương vẫn sống hết mình cho những cuộc vui, cho bạn bè, cho sở thích.

Cho đến một hôm … Hương đã chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi mơ ước – đi cùng với bố mẹ sang gặp anh chị, được sống tại một xứ sở mà nơi đó tương lai không hề là một cái gì trừu tượng .. hạnh phúc quá!  Hương đã may một chiếc ao dài mầu hồng.  Hương đã chuẩn bị từ giã bạn bè và các anh chị còn ở lại.  Hương đã vạch ra chương trình học và làm việc cho tương lại.  Hương đã dự định sẽ gửi quà về “cứu trợ” cho những ai …

Để rồi nửa khuya hôm đó, Hương đã phải tỉnh hẳn cơn ngái ngủ để nhìn thẳng vào biến cố: “Họ đã đến.”  Hương đã cố hết sức bình tĩnh để khỏi thét lên căm hờn khi nhìn tay Bố nắm chặt, mặt Bố đanh thép ngửng lên nhìn một vật gì phía trên tầm cao của “họ”, trong khi “họ” bằng một giọng y hệt như đọc “xã luận” trong radio, kéo dài cái gọi là “bản cáo trạng” đối với Bố.  Bố bình thản quá lắm, làm Hương đau lòng còn hơn cả nếu Bố bị bối rối, hốt hoảng hay thậm chí sợ hãi.  Lòng bồng bột khiến Hương có những phản ứng trẻ con, như đối đáp chua ngoa, móc họng, mỉa mai.  Nhưng những cái máy bắt vẫn trơ trơ thản nhiên.  Hương đã làm những việc vô ích.

Thế là đời đã lật sang mặt trái.  Cô bé vô ưu thuở nào bây giờ bị bắt buộc phải nhìn thẳng vào mặt trái nghiệt ngã ấy.  Nhưng “If you can not see the bright side of a thing, polish the dule side!”, một hàng chữ nổi khắc trên tòa giáo đường cổ xưa ở Atlanta đã nói như vậy.  Hương đã học được cách “đánh bóng mặt trái của sự vật” từ biến cố ấy.  Mặc dù rõ ràng cuộc đời đã mất hết yên vui, đường đến tương lai đã bị đứt đoạn, nhưng Hương vẫn nhanh chóng bình tĩnh không tự để bị lún xuống vũng lầy bi quan.  Chính Hương là người đã kêu lên:
-       Nhưng mình không được buồn!  Chính  Bố vẫn dặn mình lúc nào cũng nên lạc quan - “Ở trong ấy” nếu Bố biết chúng mình đầu hàng, thua cuộc, Bố sẽ “chán” mình lắm đấy.
Thế là Hương can đảm, vui vẻ “đánh bóng mặt trái” bằng đức lạc quan của mình.  Thật cảm động khi nhìn thấy cô gé nhỏ xíu ấy cố gắng sống sao cho “xứng đáng là con Bố Mẹ”.  Cái tiêu chuẩn đáng yêu ấy vẫn gợi lên cho tôi những cảm giác đặc biệt.  Bố mẹ phải sống “thành” và “nhân” đến mức nào thì các con mới có thể an tâm soi lấy gương ấy mà sống một cách tự hào như vậy.

Tất nhiên những đặc tính thuộc về bản chất của Hương không hề đổi thay – vẫn cái kiểu ép buộc người ta (nhất là vợ chồng tôi phải nhận sự chăm sóc giúp đỡ của mình bằng những mưu mẹo buồn cười.  Có cái gì ngon muốn chia cho tôi, Hương cứ kêu ầm lên: “Ngán quá!” rồi gắp lên hết vào chén của tôi: “Ăn dùm em đi!” Lại còn hay dấm dúi vào giỏ xách hoặc túi quần, túi áo chúng tôi một món gì đó, hoặc một số tiền mà chúng tôi vừa chối từ không dám nhận ở tay Bác.  Những buổi tối đang quây quần chơi đùa dưới nhà, bỗn Tiny khóc nhè đòi đi ngủ, thế nào Hương cũng dành bế nó lền lầu (nếu không có bác Khánh ở nhà) dỗ nó ngủ.  Có lần tôi vừa cảm động, vừa buồn cười thấy cô nàng mắt mở không lên vẫn ráng bắt chước tôi, khe khẽ ầu ơ ru bé Tiny khó tính suốt một tiếng đồng hồ.  Hương yêu cháu và trẻ nhỏ nói chung, một cách tự nhiện và chân thật, chứ không phải chỉ vờ nựng nịu con nít để làm dáng như đa số các cô mới lớn.  Cô bé ham chơi ấy mà lại có thể chịu khó ngồi yên nghe Tí Ti và Tiny nói câu được câu chăng, lại còn sẵn sàng thông ngôn mỗi khi có có câu nào khó hiểu, điều mà chỉ có bố mẹ đứa trẻ mới làm được.  Hương lại chịu khó bày trò chơi cho cháu, khơi dậy óc liên tưởng và trí tưởng tượng của chúng một cách khéo léo dù chưa hề học sư phạm. 

Nhưng cái dễ đưa chúng tôi đến gần với nhau hơn cả là óc khôi hài.  Nhìn Hương và nghe Hương là đủ thấy cô nàng là một trong những tay có máu humour nhất nhà.  Hương nhanh nhảu, thông minh và duyên dáng một cách độc đáo.  Những câu chuyện tếu lâm hiểm hóc nhất thường bị cô bé miện còn hoi sữa ấy hiệu ra trước nhất.  Hương có khả năng đón bắt những câu khôi hài ẩn áo, những châm biếm sâu cay … một cách tinh tế so với số tuổi.  Thật là khoan khoái khoi được trò chuyện với những kẻ “nói cùng một ngôn ngữ” với mình như vậy.  Một số từ ngữ chúng tôi thường dùng đều có ý nghĩa đảo lộn so với tự điển.  Những danh từ và hình dung từ ghê gớm nhất đều được nói ra trìu mến đến độ có thể làm điên đầu các học giả tiếng Việt.  Những lời miệt thị thường ùng để diễn tả những tình cảm âu yếm nhất.  Ai cũng gọi bố Tiny là “người chồng bất hạnh” của tôi, còn tôi là “ác phụ” của nhà tôi.  Bạn hãy tìm phải nghĩa.  Nếu Hương bảo tôi: “Bà này khó ưa quá!” , có nghĩa là: “Chị Thùy dễ thương quá!”, hoặc “Anh Dũng láu cá thật”, có nghĩa là anh Dũng không láu cá chút nào.  Tôi còn có thể liệt kê ra đây những từ ngữ đẹp đẽ như: “Ghê tởm, thô bi, õng ẹo, nham nhở, dã man, nói thách, lấy tiền mặt, làm thủ tục, bịp bợm v.v..” mà nếu không có sự giải thích của các tác giả, sẽ chẳng ai hiểu nổi ý nghĩa thâm áo của chúng. 

Một đặc điểm nổi bật khác của Hương là bản chất ưa nhiệt náo.  Có đến hơn nửa năm, ai cũng phải kêu ầm là nhìn vào bộ mặt “ma đói” của Hương.  Đói ăn, đó ngủ, bởi vì nếu ăn và ngủ thì lấy ai đi chơi cho.  Đi Hà Nội ư? Có mặt!  Đi ciné không Hương? Xong ngay.  Đi nghe nhạc?  Chịp gấp.  Đến nhà bạn?  Có luôn.  Đi bơi? Khoái quá.  Đi sở thú bán máy bay? D’accord. Và hàng tỉ cái cớ để được đi.  Như khi chị Ba mới lấy anh ba, hầu như chiều nào Hương cũng rên rỉ: “Trời ơi! Tội nghiệp chị Ba quá! Chắc chị Ba buồn lắm đó!  Mình lên thăm chị ba đi!”  Đến tôi phải phì cười: “Chị lại nghĩ ngược với Hương chứ!  Chị nghĩ chắc Hương đang buồn lắm, cần phải lên cho chị Ba thăm Hương mới được.”

Vậy mà cái biến cố đêm 1 tháng 5 kia đã làm cô bé ham chơi thay đổi hẳn.  Chỉ khoảng vài tuần sau cái ngày tăm tối ấy, một buổi sáng tôi tạt ngang rót cho Tí Ti tách sữa tươi thì thấy cô Cendirllon nhỏ bé của tôi đang lúi húi làm gì đó trong gian bếp tối om.  Thì ra cô bé vừa đi chợ về và đang làm cơm.  Cho tới nay nghĩ nhiên bé Hương đã trở thành người nội trợ tiết kiệm, nấu ăn giỏi và nhanh.  Bé đã dám chê chị Thùy là làm cơm chậm và vụng hơn bé.  Mà tôi cũng thấy như thế thật.  Còn bố bé Tiny thì chắc lưỡi: “Sáng nay gặp nhỏ Hương trong chợ, thấy cô nàng lầm lũi xách giỏ đi ngang nhà anh Hai cũng không ghé vô.  Thấy thương quá.  Mới hôm nào còn ham chơi đây mà bây giờ đã giỏi vậy rồi!”  Tôi cười thầm muốn bảo nàh tôi thử sờ vào gáy xem có phải mình thua bé Hương rõ ràng không?  Bởi vì bé Hương còn không ghé anh được, chứ ba bé Tiny thì dễ dầu gì?

Đồng thời với công tác chợ búa, Hương còn giảm hẳn việc đi chơi để dành thì giờ ưu tiên học sinh ngữ và học đàn.  Tôi vẫn định trêu Hương rằng: “Hương nói tiếng Anh giỏi hơn người Đức, nói tiếng Đức giỏi hơn người Pháp, nói tiếng Pháp giỏi hơn người Anh v.vv và v.vv.  Nhưng thật ra Hương quả rất có khiếu học sinh ngữ.  Hương học nhanh, chính xác, thấu đáo, thông minh … dưới sự dẫn dắt khéo léo tuyệt vời của chị Khánh.  Cả nhà chúng tôi vẫn đặt kỳ vọng vào Hương.  Với sự mẫn thiệp sẵn có và vốn liếng sinh ngữ do chị Khánh gầy dựng, cô bé ấy có thể nổi đình nổi đám trong chốn ngoại trường lắm chứ chẳng không.  Bây giờ chỉ còn chờ xem đương kim ngoại trưởng bao giờ thì giã từ vũ khí để điền Hương vào chỗ trống mà thôi.  Cha chả, lúc bấy giờ phải biết là “đã đã” Hương nhỉ?  Chúng mình sẽ lập tức quay một trăm tám mươi độ tiến thẳng về ánh mặt trời ngay chứ!  Ngủ quên lâu quá rồi!

Ngày xưa, trong một vở kịch bằng tiếng Pháp diễn vở: “Chiếc Áo Vô Hình” của Andersen, Hương có nhiệm vụ chạy ra chỉ vào nhà vua kêu lên: “Il est nu, le roy!” Và cô nàng đã … nói lái: “Il es ru, le nois!”  May mà hầu hết khán giả đều biết nói lái, nên chuỗi cười càng dữ dội hơn dự tính.
 
Cái giai đoạn “Il es ru, le nois!” ấy bây giờ đã biến dạng thành giai thoại Hương uốn giọng cho tôi đọc chữ “Souviens” cho chỉnh.  Ối trời đất ôi, sao mà quê quá vậy nè!

Cũng cô bé nhí nhảnh ham chơi ấy khi vào học đàn là kỷ luật răm rắp.  Chị Khánh vừa là thầy vừa là bạn đồng hành của Hương trong mọi lãnh vực.  Sự có mặt của chị thúc đẩy Hương bền chí và cảm thấy việc học là cái gì đáng yêu chứ không đáng chán.  Ngày nào chị và Hương cũng ngồi vào đàn ít nhất nữa giờ.  Cuối tuần hai chị em cùng đến nhà cô giáo để học và để trả bài tuần trước.  Sự tương phản giữa hai cá tính thể hiện rõ qua tiếng đàn.  Nếu tiếng đàn chị Khánh điềm tĩnh, chậm rãi, nghĩ ngợi thì tiếng đàn của Hương như vó ngựa hồng non đang ào ạt phi qua đồng cỏ.  Nếu thỉnh thoảng có khuỵu chân thì vó ngựa cũng chỉ dừng lại trong khoảnh khắc, rồi lại tiếp tục vươn tới, khỏe khoắn, tràn trề sức sống chưa được tự kìm hãm.  Tin rằng đến một lúc nào đó nhựa sống dồi dào kia được tinh lọc và trưởng thành, Hương chắc chắn sẽ đạt đến thành công trên con đường âm nhạc.

Về việc cầm bút ư? Con nhà tông, mà sao Hương lại được “3” trong điểm thi môn văn kỳ tốt nghiệp phổ thông?  Ấy vậy mà thay vì nhăn nhó, cô nàng còn tươi ngay nét mặt kể với tôi rằng: “Có người còn cho thế là quá dở, cần phải được zéro mới xứng đáng là con của Bố.” Tôi chả hiểu gì cả.  Nhưng bao giờ rảnh, bạn nên mượn bài essai Hương viết để nộp cho chị Khánh về đề tài: “Cảm tưởng về việc xem television hằng ngày” bằng tiếng Anh.  Chị Khánh lại cho Hương mười điểm và bảo Hương có khiếu viết văn mới lạ chứ.  Lạ thật!

Ngô Thùy