Sep 10, 2008

ANH KHÁNH HỒNG & VIETNAMESE AMERICAN PHILHARMONIC: DÀN NHẠC THÍNH PHÒNG CỦA NGƯỜI VIỆT CALI

Có thể nói rằng nền âm nhạc thính phòng của Việt Nam chiếm một vị trí khá khiêm tốn trong bản đồ nhạc cổ điển Tây Phương thế giới. Một quốc gia với dân số hơn 80 triệu người, mà số người theo học các lọai nhạc cụ cổ điển còn khá khiêm tốn. Chỉ có hai loại đàn dương cầm và tây ban cầm là tương đối phổ biến nhất. Vì sao vậy? Lý do thực tế nhất chính là ít có người nghe . Ở Việt Nam, nhạc cổ điển vẫn còn khá cao xa với đại đa số người dân, vì nó đòi hỏi một trình độ âm nhạc nhất định để thưởng thức. Theo qui luật của thị trường, hễ ít người nghe thì ít người chịu học. Các buổi hòa nhạc ở Nhạc Viện Sài Gòn chỉ dành cho một số lượng khán giả nhỏ, quen thuộc.

Ở ngay tại Việt Nam là vậy. Còn đối với cộng đồng người Việt ở hải ngọai thì sao? Hồi còn ở quê nhà, tôi có biết anh thầy dạy violin của mình khi sang Mỹ đi học thành dược sỹ, không sống bằng nghề nhạc nữa. Còn nhiều người khác cũng đã từng dạy ở trường nhạc tại Việt Nam, nhưng sang Mỹ phải đổi nghề. Tôi đã từng nghĩ rằng việc có được một dàn nhạc thính phòng của riêng người Việt ở Mỹ chắc là còn khó hơn nhiều. Nhưng sang đến Cali, tôi lại được xem khá nhiều chương trình nhạc thính phòng của dàn nhạc Vietnamese American Philharmonic VAP). Tôi bèn tìm gặp anh Nguyễn Khánh Hồng, nhạc trưởng của VAP để tìm hiểu thêm về sự phát triển của dàn nhạc này…

Anh Khánh Hồng vượt biên sang Mỹ năm 89. Hai năm đầu anh ở New York. Là một trong những violinist hàng đầu, vừa là giảng viên violin của trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn trong thập niên 80, anh Hồng quyết chí theo đuổi lại ngành nhạc. Anh vừa đi học computer ở college, vừa đi học nhạc ở Brooklyn Conservatoire. Anh tiếp tục học violin, nhưng còn lấy thêm mấy lớp về chỉ huy dàn nhạc nữa. Lý do là vì anh đã thích cầm đũa chỉ huy từ lâu rồi, từ hồi còn trẻ nhìn thầy Đỗ Thế Phiệt của mình chỉ huy dàn nhạc ở Sài Gòn. Một lý do khác là vì anh nghĩ tới một dàn nhạc thính phòng của người Việt ở Mỹ trong tương lai. Tôi hỏi anh có gặp khó khăn gì khi chuyển từ violin sang chỉ huy hay không, anh Hồng trả lời là không hề. Những violinist đã từng ngồi dàn nhạc nhiều năm như anh hiểu rất rõ công việc của nhạc trưởng, cho nên học rất nhanh.


Thầy giáo Khánh Hồng
Trong lớp dạy violin của mình

Năm 91, anh Khánh Hồng về Nam Cali. Anh bắt đầu nhận dạy violin trong cộng đồng người Việt ở Westminster Music School. Anh cũng ngồi nhiều dàn nhạc thính phòng khác nhau của cộng đồng Mỹ, công việc này cho anh rất nhiều quan hệ trong giới âm nhạc cổ điển. Anh nhận thấy nhu cầu nghe nhạc Việt dàn dựng với ban nhạc thính phòng ngày càng lớn. Đến năm 94, cùng với một số bạn bè và học trò, anh thành lập Ban Nhạc Thính Phòng Việt Mỹ, hay Vietnamese American Philharmonic (VAP). Đêm trình diễn đầu tiên của VAP là vào muà Giáng Sinh năm 94, phối hợp cùng với Westminster Music School. Lúc đó ban nhạc chỉ mới có 17 thành viên. Cả khán giả lẫn ban nhạc đều hào hứng với sự kiện này. Do đó, sang đến năm 95, VAP có đêm trình diễn bán vé đầu tiên. Ban nhạc đã tăng lên 30 người. Có thể nói rằng VAP đã phát triển khá nhanh chóng trong một thời gian ngắn, hơn hẳn cả dự kiến của anh Hồng.

Khi được hỏi lý do làm cho nền âm nhạc thính phòng Việt Nam tại Cali phát triển có phần nhanh hơn ở trong nước, anh Hồng cho biết có nhiều nguyên nhân. Một phần là do có một số lượng khán giả Việt khá lớn tập trung ở Quận Cam. Một phần do có nhiều trẻ em ở Mỹ được cha mẹ cho đi học nhạc cổ điển hơn ở Việt Nam. Với thu nhập ở Mỹ, việc chi phí cho con đi học violin, piano, cello…là không quá đắt. Những nhạc cụ này rất phổ biến ở Mỹ, nên các em dễ tìm bạn cùng chơi trong trường lớp. Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất có lẽ là do điều kiện để dạy, học, trình diễn nhạc thính phòng ở Mỹ quá thuận lợi, dễ dàng. Cũng giống như chương trình dạy chữ, dạy nghề, chương trình dạy âm nhạc ở Mỹ rất khoa học, logic, đầy đủ sách vở, tài liệu, giáo trình cho mọi trình độ. Do đó trẻ em ở Mỹ học đàn khá dễ dàng, mau đạt kết quả hơn ở Việt Nam nhiều. Anh Hồng cho một vài thí dụ trong môn violin: nếu trẻ em học violin ở Việt Nam phải tập 2 tiếng trong một ngày, thì trẻ em ở Mỹ chỉ cần nửa tiếng. Đó là do phương pháp dạy hợp lý hơn. Các em học nhạc được cho hòa nhạc rất nhanh thay vì phải đánh những bài tập khô khan một mình cả mấy tháng trời. Ở Mỹ các tác phẩm cổ điển được biên sọan sẵn ở nhiều trình độ khác nhau. Ngay cả bản Symphony No.5 bất hủ của Beethoven cũng có version biên sọan dành cho trẻ em hòa tấu! Anh Hồng cho biết học nhạc mà được tham gia hòa tấu nhanh như vậy, các em sẽ tiến bộ rất mau. Được nghe trong một harmony tổng thể, khả năng giữ nhịp và điều chỉnh cao độ của các em dễ dàng hơn là tập một mình.

Họat động âm nhạc trong một môi trường tốt như vậy, anh Khánh Hồng rất vui khi thấy công việc mình làm có hiệu quả. VAP đã đem ca khúc Việt Nam vào trong cái nền nhạc thính phòng một cách thành công trên đất Mỹ. Theo anh Khánh Hồng, phong cách trình diễn này làm nâng giá trị của ca khúc Việt Nam lên. Người nghe được thưởng thức những giai điệu Việt Nam quen thuộc trên nền hòa âm công phu của nhạc cổ điển Tây Phương. Công việc của anh thật là bận rộn. Anh dạy violin làm phương tiện sinh kế, còn làm nhạc trưởng cho VAP như là công việc tự nguyện. Một số học trò của anh đào tạo cũng trở thành nhạc công tự nguyện cho VAP. Anh vẫn đi diễn violin cùng một số dàn nhạc Mỹ khác nhau để giữ quan hệ, kéo thêm nhạc công về cho VAP. Anh Hồng phải kiêm luôn cả hai nhiệm vụ Music Director và Operation Director của dàn nhạc. Một năm trung bình VAP có khỏang 04 chương trình lớn (như những đêm nhạc Phạm Đình Chương, Dương Thiệu Tước… đã thực hiện) và nhiều chương trình nhỏ. Anh nói nếu chỉ phụ trách phần âm nhạc không thôi, anh sẽ có thời gian dàn dựng nhiều chương trình hơn nữa. Phần hòa âm đã có các nhạc sĩ LêVăn Khoa, Duy Cường, Đặng Xuân Thìn, Hồ Đăng Tín… thực hiện. Nhưng phần điều hành, phối hợp thực hiện chương trình lại chiếm nhiều thời giờ của anh hơn. Phải kiếm những nhà tài trợ thường xuyên, vì đây là nguồn tài chính quan trọng nhất để duy trì họat động. Phải sắp xếp để ban nhạc tập dợt với nhau, rồi tập với ca sĩ. Rồi đến công việc layout bích chương quảng cáo, tổ chức bán vé… anh Hồng cũng phải để mắt tới. Thậm chí đến ngày trình diễn, anh cũng là người có mặt ở sân khấu sớm nhất để sắp xếp chỗ ngồi cho dàn nhạc! Nếu chỉ đến với những đêm biểu diễn của VAP, thấy anh Khánh Hồng cầm đũa chỉ huy đứng điều khiển dàn nhạc, chắc chắn khán giả sẽ không thể tưởng tượng hết những công việc không tên của anh phải làm như đã kể trên trong suốt thời gian chuẩn bị!

Những chương trình sắp tới của VAP? Tháng 10 tới sẽ là chương trình Lê Văn Khoa. Kế tiếp là chương trình Đỗ Thế Phiệt vào tháng 11. Sau đó sẽ là chương trình Giáng Sinh, rồi chương trình Mùa Xuân… Thấy anh bận rộn như vậy, tôi cũng mừng. Những người yêu mến nền âm nhạc thính phòng Việt Nam yên tâm, vì vẫn còn được thưởng thức các chương trình của VAP trong một thời gian dài nữa. Từ cây đàn violin chuyển sang cây đũa chỉ huy, anh Khánh Hồng vẫn tiếp tục là một trong những người đi đầu của nền âm nhạc thính phòng của người Việt đất Mỹ…

Đòan Hưng

Nhạc trưởng Khánh Hồng
và dàn nhạc Vietnamese American Philharmonic


Sep 8, 2008

CHIỀU VỀ TRÊN SÔNG - ảnh và tranh












Chiều về trên sông (Đồng Nai)


Út ơi,

Càng ngắm nguyên bản tấm « Chiều về trên sông » anh càng thích thú. Út phải gắng đừng lạm dụng cái dễ dàng của những trình chỉnh hình.
Nó phá hình mình đi.


Trên nguyên bản có bóng hai caí cột cầu ( ???), bên trái đối với cái cột phía tay mặt, anh thấy khéo, có một bầu trời mây đe dọa hùng vĩ , áng máy tối xầm chiếm cả phần trên tấm hình, gợi 2 chữ « gầm trời » trong tiếng Việt mình. Rồi áng mây đó bỗng nhường chỗ cho một vùng ánh sáng bắt đầu e ấp từ phía trái, giữa hai cái bóng cột cầu, rồi toả ra rạng ngời giữa hình. Tuyệt ! Những bóng đen của tàu bè trên sông, và của nhà cửa in trên chân trời, rất đẹp (silhouettage thành công).
Sóng gợn trên sông bàng bạc cũng rất đẹp.


Cái câu anh viết hồi hôm qua rằng cảnh thơ mộng «… khiến người ta bỗng thấy lòng trùng xuống, êm ắng, rồi mơ mơ màng màng ngó ra chân trời xa liên tưởng đến gì gì đó không biết», dùng cho tấm nguyên bản này càng đúng hơn nữa ! Anh muốn khen cho Út hứng mà đi lùng những cảnh ánh sáng như vậy mà chụp. Út có biết là chụp như vậy là
« contre jour » không ? Không dễ đâu.


Còn nữa, anh mê áng mây cuồn cuộn đó. Hình trông như tranh, very nice Út. Anh chợt nhớ đến cái cảnh bến phà trên sông Cửu Long trong phim «l’amant» của Jean Jacques Annaud.Nhưng trong cảnh đó, thay vì mây thì là khói, khói từ con tàu đưa em (con bé trong phim, ngó từ nhãn quan cái anh chàng công tử huê kiều kia) sang sông. Út biết cảnh đó không. Anh có vẽ lại, gửi coi nè.

Anh Tùng

Traversée du Mékong


Sep 6, 2008

JENNY PHẠM & JENNY N FASHION: CÔ GÁI VIỆT LÀM THỜI TRANG CHO NGƯỜI MỸ

Jenny Pham trong chương trình Thời Trang
do Tổng Hội Sinh Viên Nam Cali tổ chức
(hình này do Jenny N Fashion cung cấp)


Bình luận về thời trang? Có lẽ đây là một trong những đề tài khó viết nhất đối với một người chỉ khoái mặc quần jean, áo thun như tôi. Từ hồi còn ở Việt Nam, mỗi khi nghĩ về thời trang, tôi thường liên tưởng đến các bà đầm thiết kế thời trang người Pháp hay người Ý gì đó, với những trang phục hết sức khác thường, cùng những cô người mẫu đi catwalk với những bộ thời trang… không ai dám mặc trong đời thường! Sang đến Cali, tôi có dịp tình cờ gặp Jenny Phạm ở khu Bolsa, rồi sau đó mới được anh bạn bảo rằng “…cô đó là nhà thiết kế thời trang đó!”. Thấy cô gái trẻ đẹp này cũng không đến nỗi …khác thường như những nhà thời trang Pháp-Ý xuất trên tivi, tôi bèn làm quen để hỏi cô về chuyện thời trang Việt trên đất Mỹ. Thật là ngạc nhiên khi tôi biết ra rằng Jenny thiết kế thời trang không nhắm vào thị trường người Việt, mà là cho người Mỹ…

Jenny đi bảo lãnh sang Cali, hòan thành chương trình đại học ở Golden West College. Công việc đầu tiên mà cô làm để kiếm tiền là nghề dental technician trong một phòng lab nha khoa. Nhưng đó chỉ là bước đệm trong việc thực hiện một ước mơ đã có từ lâu của cô: làm thời trang. Bởi vì Jenny đã say mê hành nghề này từ năm cô… 9 tuổi. Jenny kể lại rằng hồi
đó cô có con búp bê mà cái cái áo đầm không ưng ý mình lắm. Jenny bèn đi lang thang ra các tiệm may gần nhà ở Bình Thạnh-Sài Gòn, nhặt mấy mảnh vải thừa, rồi tự nghĩ ra kiểu và tự may áo cho búp bê. Không ngờ lũ bạn hàng xóm mê mẫu áo của Jenny quá, nên đặt cô may áo cho búp bê của mình, có trả tiền đàng hòang! Thế là nhà thời trang tí hon Nguyên (tên Việt Nam của Jenny) đã kiếm được khá tiền từ công việc vẽ và may áo búp bê. Chiếc xe đạp đầu tiên trong đời của cô mua được cũng từ món tiền này.

Nhưng đó chỉ là câu chuyện của quá khứ. Còn việc kinh doanh thời trang ở Mỹ trong thế kỷ 21 thì không dễ như vậy. Nó đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ hơn, cho dù bạn có khả năng thiên phú. Jenny hiểu rõ điều này. Trước tiên là phải có vốn. Năm năm làm dental technician giúp cô dành giụm một số tiền. Kế đến là phải tích lũy kinh nghiệm. Jenny quan sát thị hiếu ăn mặc của người Mỹ trong nhiều năm liền. Cô cũng ghi danh đi học ngành FIDM (Fashion International Design Merchandise) ở Irvine, nhưng chỉ lấy một vài lớp. Cô thử trắc nghiệm gout thời trang của mình bằng chính những trang phục cô tự chọn cho mình. Khi thấy bạn bè và người chung quanh thích kiểu cách ăn mặc của mình, cô tự tin hơn. Vào năm 2003, Jenny quyết định thử thời vận bằng cách mở fashion shop đầu tiên của mình tại ngã tư Brookhurst-Ellis, lấy tên là The Girls Closet. The Girls Closet chỉ là bước khởi đầu của một chặng đường phát triển kinh doanh dài. Tiệm lúc đó chỉ bán lẻ là chính, doanh thu chỉ tạm đủ bù cho chi phí. Để tồn tại và phát triển, Jenny cần có thêm cái đầu của một nữ doanh nhân, biết điều chỉnh kế họach kinh doanh hợp thờivà hợp lý. Đầu tiên là Jenny quyết định không nhắm vào thị trường người Việt vì quá nhỏ. Cô tìm cách đi vào main stream, dù biết là đường đi sẽ khó khăn hơn. Năm 2005, Jenny mở tiệm Jenny N Fashion tại đại lộ Melrose ở Los Angeles, một trong những con đường thời trang lớn của Cali. Khách hàng của Jenny lúc đó đã có những ngôi sao điện ảnh, những nhân vật nổi tiếng. Nhưng bán lẻ vẫn không phải là hướng kinh doanh chính. Jenny cho rằng phải tìm cách bán sỉ thông qua các wholesaler lớn của Mỹ thì mới có thể phát triển được. Jenny đặt mục tiêu cho mình là phải vào được California Mart, trung tâm bán sỉ quần áo thời trang cao cấp lớn nhất ở LA. Thông qua những cuốn buyer books, Jenny chọn ra một số nhà bán sỉ đã có cửa hàng trong California Mart, gởi hồ sơ giới thiệu collection của mình đến giới thiệu với cả chục công ty khác nhau. Đây là cửa ải khó nhất, vì những nhà bán sỉ ở đây rất kén suppliers, họ sàn lọc rất kỹ. Thời cơ đã đến khi Bernadette Mopera & Co, một wholesaler lớn đề nghị gặp Jenny. Sau khi xem xét kinh nghiệm cùng những mẫu thời trang Jenny thực hiện, công ty này đã quyết định cho cô thử thời vận, đồng ý cho Jenny trưng bày hàng hóa trong showroom của mình. Cánh cửa quan trọng nhất đã mở ra trong sự nghiệp kinh doanh thời trang của Jenny, thời điểm đó là vào năm 2006.


Cùng với Bernadette Mopera, công việc bán sỉ của Jenny N Fashion phát triển nhanh chóng. Showroom của công ty, nằm ở ngã tư Brookhurst-Bolsa, hiện nay đựơc dùng để làm văn phòng giao dịch nhiều hơn là để kinh doanh. Jenny đang cung cấp quần áo cho gần 200 cửa tiệm thời trang khác nhau ở Mỹ, Canada, Nhật. Không cần quá lộng lẫy, cầu kỳ, mẫu thời trang của Jenny vẫn có chỗ đứng vững chắc trong thị trường. Đó là sự phối hợp giữa thiên khiếu thẩm mỹ và sự nhạy bén trong kinh doanh. Sản phẩm chính của Jenny N là tops & dresses, vốn không đòi hỏi nhiều sự chính xác khi may đo, nên rất phù hợp với thời trang may sẵn. Còn về phong cách, Jenny tự đánh giá thời trang của mình là trẻ, quyến rũ, dễ thương. Chỉ cần chọn chất liệu vải phù hợp, màu sắc hài hòa, phối hợp thêm với một vài chi tiết trang trí làm điểm nhấn là ta đã có một kiểu áo đẹp. Nói thì dễ, nhưng làm thì …không dễ chút nào! Jenny phải luôn theo sát thị hiếu của người tiêu dùng để điều chỉnh mẫu thời trang cho phù hợp. Cô cho biết một năm cô chỉ có 4 kỳ ra mẫu mã mới theo 4 mùa. Mỗi lần như vậy, cô phải bay sang Trung Quốc và Việt Nam là hai nơi gia công các mẫu áo của mình. Cô phải làm việc rất kỹ lưỡng với các nhà sản xuất, từ khâu chọn vật liệu cho đến từng chi tiết nhỏ của mẫu. Chỉ đến khi mẫu thiết kế mới hòan thiện đúng với ý của mình, Jenny mới yên tâm trở về Mỹ tung ra thị trường.

Thiết kế-kiểm tra sản xuất- tiếp thị-bán hàng. Jenny phải tham gia vào tất cả các khâu này trong qui trình kinh doanh. Làm chủ một doanh nghiệp nhỏ ở Mỹ là phải đa đoan vậy đó. Lòng đam mê giúp nhà doanh nghiệp trẻ tuổi này vượt qua mọi gian nan trong nghề nghiệp. Dù rất bận rộn, trong 03 năm qua, Jenny vẫn dành cho Tổng Hội Sinh Viên Nam Cali một chương trình thời trang hằng năm của mình để gây quĩ trong dịp đầu năm. Trong tháng 7 vừa rồi, cô về Việt Nam thực hiện một chương trình thời trang ở Sài Gòn mang tên Phong Cách & Đam Mê, với mục đích giao lưu, giới thiệu những thiết kế của cô đến với giới trẻ tại quê hương. Kế hoạch trong tương lai của Jenny là sẽ tiếp tục mở rộng công việc bán sỉ của mình thông qua các nhà bán sỉ khác. Jenny đã và đang tham dự nhiều Magic Show tổ chức ở Las Vegas là để thực hiện mục đích này.

Còn hiện tại? Jenny vẫn enjoy những ngày nghỉ cuối tuần với bè bạn tại các nhà hàng outdoor gần biển mà cô yêu thích, vẫn dành thì giờ cho cây đàn keyboard, vẫn đi bơi đều đặn. Những giây phút thoải mái như vậy giữ cho tâm hồn của cô luôn tươi trẻ, như thời cô bé Nguyên ngày xưa làm thời trang búp bê ở Sài Gòn. Có như vậy, niềm đam mê sáng tác trong Jenny lúc nào cũng tràn đầy trí tưởng tượng, sự sáng tạo, điều rất cần đối với những nhà thiết kế thời trang trẻ như cô…

Đòan Hưng


Chân dung "Doan Gia's Fashion designor Ti Na" - bố Hiếu vẽ
bên cạnh các kiểu áo do Ti Na sáng tác hồi nhỏ xíu


Sep 5, 2008

ROANOKE ISLAND - by Anh Doan


Roanoke Island


In 1585, Queen Elizabeth sent Sir Walter Raleigh with 108 people to Virginia so she can gain more power by ruling more land. But they got as far to Roanoke Island. They had many hardships so all but 15 went back to England. In 1587, Queen Elizabeth sent John Smith and his group of 108 to Virginia. Again they can only go far to Roanoke Island. Once they got there the 15 people from the first group was gone. John Smith went back to England so he can get more supplies. But since there was war, John White couldn’t go back to the Island because all the ships were needed for the war. In 1590, John White returned to Roanoke Island but, his group was missing! There was no trace but a word “Croatoan” was carved on a tree. His books were ruined by rain, and armors were rusted. Now Roanoke Island is on the eastern part on North Carolina. Today there are Indians calling themselves Croatoans on the hills of Roanoke Island. Many of them have English names.


Based on a true story


Anh Doan




My Trip to Roanoke Island


They all say, Roanoke Island had has some mysteries that hasn’t been solved yet. Well now it’s my turn to get to that level with my other settlers. As my head starts to heat up from the boiling, hot sun… I was searching for any fishes or crabs swimming by. Our leader, John White, returned to England for more supplies. By the time he was gone, we didn’t have much water and food. We couldn’t drink salt water because it wasn’t healthy. We received food for only once a week. Our stomachs were growling and hurting. We couldn’t change into any clothes that are clean. There wasn’t any shoe stores around. Just plain, white, and hot sand underneath our feet .And all around us was an entire acre of salt water. One day, a person saw lots of fishes swimming here and there and everywhere! I took my bold stick and began punching on any fishes I can aim on. My friend made a fire out of timber wood. It wasn’t that long until the fire went out right in the middle of our cooking. Half was raw and the other was cooked. We didn’t have a choice so we shared for each person. One fish being shared to 108 people was very tiring. We shared 1 inch of meat to everyone. And for the bones will be wasted out on sea.

It has been a year already and John White hasn’t come yet. 3 people died from dehydration and some of us are already sick. The story may be passed on to the mystery of the real Roanoke Island story.


Anh Doan

That's my untrue story for Roanoke island.. I couldnt find an ending so I put a mystery ;).
Do you like the ending ?



Sep 4, 2008

CHÁU KHÓC BÀ - Vi Doan . Cuong Doan

Cây Sống Đời


Message by Phuong Vi Doan

Ba Ngoai,

You were the person who loved me so much
to take care of me when I was a baby.
You were the person who loved me so much
to let me sleep with you on your bed.
You were the person who loved me so much
to sing me songs whenever I asked.
You were the person who loved me so much
to hold me whenever I cried.
You were the person who loved me so much
to feed me only the best food you cooked.
You were the person who loved me so much
to watch me grow up every year.
You were the person who loved me so much
to tell me your advice when I was old enough.
You were the person who loved me so much
to push me towards my goals.
You were the person who loved me so much
to watch me when I succeeded.
You were the person who loved me so much
to care about me no matter what.
You were the person who loved me so much
to be my grandmother.
I love you so much that it’s hard for me to see you go.
But I do know that you will always be the person
who loves me even when you’re not here.
Thank you for loving me completely for 21 years.
Loving you always,

Phuong Vi


Hoa Sống Đời


Message by Cuong Doan

An angel, a mother, and wife all-in-one,
She was all about family and all about fun.
Metaphorically sticky like tape and glue,
Stuck family together and kept me with you.
She traveled the world and mothered seven offspring,
Had seventeen grandchildren, isn’t that something?
Strawberry shakes after a long day outdoors,
Soy ba for lunch, then beef noodles and more.

We played, we talked, then we slept on the floor;
A day at my grandma’s, I couldn’t ask for more.
This poem’s not beautiful, wonderful, or moving.
It’s not at all lively, pretty, or soothing.
It won’t make you smile, it’s not too unique;
And I’m pretty sure it doesn’t own a beauty boutique.
HOWEVER… if you want something with the traits listed above,
Remember my grandmother and send all your love.

Cuong

SAN FRANCISCO - by Doãn Ti Nô



Vietnam is my old home country and I have traveled to a lot of different places there. Now I move to the America. I have visited San Antonio in Texas. Then, my latest trip was to San Francisco city.

There are a few things that make this city famous. The first one is the Golden Gate Bridge. This bridge is one of the world’s best constructions that were built by the humans. The bridge was designed to be hanging by huge steel wires. There are two big wires to hold hundreds of smaller wires, and these smaller wires will carry the bridge. The big wire is actually composed by twenty-seven really small steel wires, so it will have the strength to hold nearly over a million ton bridge. The bridge was built on the ocean port so there are a lot of fish down there below. Underneath the bridge is an old military air, now, it is just a tourist’s museum. Standing on the bridge, you can actually see the famous Alcatraz prison. It is impossible to escape from this prison. The water is bitterly cold and there are sharks in the water. Not to mention the security in that place. The funny thing here is in the X-Men movie that I watched. The bad guys moved Golden Gate Bridge using their metal controlling power and made the bridge their one way ticket to Alcatraz. Alcatraz in reality was a prison in the past, but the government rebuilt it for tourists to visit. You might think that it would take future technologies to build this bridge, and then you are wrong. This bridge was built in the late 1930s, when human technologies were still poor.

The next stop I visited was downtown San Francisco. My dad’s fried drove around to sightsee the city. The roads in this city were built on hills so we went up and down all the time. We came through the world’s most famous street: Lombard Street. The street went swirling down the hill like a roller coaster tracks, so it took pretty good driving skill to drive down this road. We visited China town to have lunch. The Chinese people built China Town when they came to the America in the gold rush. They built their settlement in San Francisco. And because of Asian people, Californian population became big enough to be accepted as a state. China town really did give me back the old Vietnamese city’s atmospheres. Streets with houses built right near each others, feels just like home. Then we visited the bay with its tourists and fishing ports. From the tourists’ ports, tours are given to the Alcatraz prison.

San Francisco city is awesome. It was a shame that we only had a little time to visit the city. In the future, I will return to visit and to take a closer look at this city.

Sep 1, 2008

Documentary about Saigon









Having a very good news about Saigon to share :
Those who suffer diabete- tức bị bịnh "tiểu đường"- are forced to make Saigon CLEAN!

Dr. Tran must be very very happy to know this new rule since looooooong time ago, when she was at teen, she once stopped her bicycle at the middle of the road and yelled at one man standing against the wall of Dai Hoc Sai Gon: "Anh kia! Không được tiểu (ngoài) đường!"

Dear Dr. Tran,
No more yelling on this subject is needed now :)