Nov 3, 2026

NGƯỜI ĐÀN BÀ BÊN KIA VĨ TUYẾN - Liễu Trương tóm tắt

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ qua đời khoảng 10 giờ sáng ngày 14 Tháng Mười, tại  California, thọ 103 tuổi. Mời đọc về cuộc đời của ông trong bài 👉:  https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/nha-van-doan-quoc-s

Trích : https://lieutruongvietvadoc.wordpress.com/2025/05/31/khu-rung-lau-cua-doan-quoc-sy-cuoc-hanh-trinh-di-tim-tu-do/

 NGƯỜI ĐÀN BÀ BÊN KIA VĨ TUYẾN 

Cuốn truyện thứ hai này đánh dấu giai đoạn thứ hai trên con đường đi tìm tự do, với sự xuất hiện của những nhân vật thuộc thế hệ đàn anh.

Khi đến vùng quốc gia, trước mắt Miên : Hình ảnh lá cờ vàng ba gạch đỏ phe phẩy thanh bình vẫy gió còn mãi mãi về sau này in hằn trong tâm tưởng Miên một ấn tượng của thịnh vượng và của tình người.

Miên bắt đầu có cảm tình với Kha, người đồng hành với anh em Miên trên đường về thành, nhất là khi nghe Kha ngâm thơ, lòng Miên trở nên mềm yếu. Giờ đây Miên yêu thầm Kha.

Khi đến vùng tề ở Vĩnh Yên, Kha gặp lại Luận, một người bạn cũ, nay là sĩ quan do Pháp đào tạo. Nhưng Luận nói : “Khi lâm trận mới thấy rằng mình chẳng bao giờ chết cho thực dân hết, mình chết để xây dựng một cái gì… một cái gì tốt đẹp và bền vững cho đất nước.” Luận cho biết rất yêu văn thơ và đã có những sáng tác đăng báo.

Vào vùng quốc gia, Kha cũng như Miên đầy hân hoan theo dõi chuyện này chuyện nọ, trong khi đó Hiển nét mặt buồn buồn, ban đêm trằn trọc thở dài. Hiển nói với Kha : “Nghe mưa rơi nhớ Việt Bắc ghê. Nếu chúng nó không phản bội kháng chiến, sau này đất nước hoàn toàn độc lập, những kỷ niệm đó với mình quý giá biết chừng nào.”

Từ ngày bỏ « ngoài kia » về thành, Kha và Hiển có cùng một tâm trạng : hy vọng quá mong manh, họ không dám nhìn vào thực trạng của xã hội. Kha chán ngán, ghê tởm những người bù nhìn do thực dân dùng. Nhìn đâu Kha cũng cảm thấy đổ vỡ.

Nhưng Kha, Hiển, Miên may mắn gặp Khiết, Khóa, Luận, Lãng rồi có Hãng, kết hợp thành gia đình Văn Hóa.

Một buổi chiều bất ngờ Luận đưa Khiết, Lê Tịnh Khiết, khoảng 36-37 tuổi, đến giới thiệu với nhóm của Kha. Khiết làm nghề luật sư nhưng thích hoạt động về văn hóa. Khiết đang làm chủ bút tuần báo Văn Hóa, một tờ báo của giới trí thức ưu thời mẫn thế nhất Hà Nội. Được biết Kha làm thơ và là người có tâm huyết, Khiết mời Kha cộng tác với tờ tuần báo.

Khiết tâm sự với các bạn là đã trải qua nhiều cuộc phiêu lưu, nhiều biến cố trong đời chỉ vì yêu nước. Khiết đã gặp nhiều thất bại : thất bại chính trị vì Khiết có khuynh hướng dùng vương đạo mà gặp toàn là bá đạo. Khiết nói : “… tôi thấy rằng mình còn một con đường để dung hòa với chính mình, đó là con đường văn hóa, chỉ có con đường này giúp ta vươn lên cao hơn mọi khuynh hướng chính trị làm một cuộc tổng hợp, chỉ có con đường này giúp ta vươn tới trước mà thỏa sức vùng vẫy bơi lội trong lý tưởng của mình.” Khiết đã đi xa về chính trị : năm 1943, Khiết có ý định tổ chức Đoàn Thanh Niên Hưng Quốc một mặt tuyên truyền chống Nhật, Pháp, một mặt mua súng ống chống Nhật lẫn Pháp. Khi chính phủ Liên Hiệp thành lập xong cử một phái đoàn sang Trùng Khánh yết kiến Tưởng Giới Thạch, nhóm Khiết dùng áp lực bắt Việt Minh để ông Bảo Đại cùng đi, để sẽ tôn ông lên làm bình phong cho một mặt trận quốc gia thống nhất sau này. Nhóm của Khiết đến Nam Kinh, nơi tập trung các nhóm. Nhưng Bảo Đại không đến vì Ủy Ban Giải Phóng của ông thành lập với Trần Trọng Kim không được Tưởng Giới Thạch và tướng Marshall ủng hộ, vì Mỹ ngây thơ tin ông Hồ là người có tinh thần quốc gia. Cuối cùng nhóm của Khiết thành lập được Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Toàn Quốc ở Thượng Hải vào năm 1947, nhưng bị Pháp phá. Khiết nhận xét trong cấp lãnh đạo, người có đạo đức thì thiếu khả năng và quá cổ, người có chút kiến thức thời thế thì tham quyền cố vị tranh giành nhau. Cho nên ngày đó Việt Minh thắng là phải.

Rồi Khiết kể mối tình của mình với Cam, người thiếu nữ gặp ở Nam Kinh khi Khiết từ Thượng Hải về Nam Kinh. Từ Nam Kinh Khiết tìm đường về Việt Nam qua ngả Cao Miên, nhưng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo, may nhờ một người đồng đội từng hoạt động với Khiết can thiệp, xin ân xá cho Khiết. Trở về Hà Nội tình cờ Khiết gặp lại Cam và bà Đô, mẹ Cam, đồng thời quen biết với Khóa, anh của Cam.

Bà Đô là một người phụ nữ đức hạnh, thông thạo chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ, biết giáo dục con cái. Bà có hai đời chồng, người chồng đầu là ông Đô Cán, cha của Khóa và Cam. Ông Đô chết bà lập gia đình với một người Tàu, chú Nìn, bà theo chồng sang sống ở Nam Kinh, bên Tàu. Bà Đô lập gia đình hai lần, nhưng cả hai lần đều do lòng biết ơn của bà. Khóa được bác Hải nuôi cho ăn học ở Lao Kay nên phải sống xa mẹ trong nhiều năm. Khi chú Nìn mất, bà Đô trở về quê hương với Cam, sau mười năm sống ở Nam Kinh, bà gặp lại Khóa, từ nay mẹ con sống gần nhau.

Khóa thi đỗ vào sở Quan thuế ở Hà Nội, làm công chức được 5 năm thì đâm chán, xin từ chức, định thong thả sẽ lập ra buôn bán. Khóa chống Pháp vì đã thấy tận mắt quân Pháp giết dân mình một cách tàn nhẫn. Mặt khác, Khóa từ chối không tham gia Việt Minh, vì cho rằng họ không phải là người tốt, và có lần Khóa bị Việt Minh bắt, bịt mắt, dẫn ra miệng hố, suýt bị xử tử.

Về Hà Nội bà Đô gặp lại Khiết mà mẹ con bà đã từng quen ở Nam kinh. Khiết từ Côn Đảo về đang xin giấy tờ để tập sự luật sư. Khiết và Khóa quen nhau và bắt đầu thân nhau.

Khiết có ý nghĩ trở lại hoạt động văn hóa và tin tưởng vào sức mạnh của văn hóa. Một năm sau, khi thân thiết với Hiển, Hãng, Kha, Miên, Khiết mới thực hiện được mộng làm văn hóa. Khiết nói : “Chính những thất vọng đắng cay mà tôi trải qua đã giúp tôi đi sâu vào bản thể sự sống.”

Khiết đã được bà Đô chấp nhận cho Khiết được lập gia đình với Cam, điều mà Cam cũng mong muốn.

Như đã nói trên, cuốn NGƯỜI ĐÀN BÀ BÊN KIA VĨ TUYẾN đánh dấu giai đoạn 2 trong cuộc hành trình đi tìm tự do, và không gian là Hà Nội. Nơi đây các nhân vật chính đều hiện diện đông đủ. Họ là những thành viên của gia đình Văn Hóa do Khiết thành lập. Mỗi người đều có một vai trò : Khiết vừa là luật sư vừa điều khiển tờ báo Văn Hóa hướng về giới trí thức, Hữu, một người bạn Khiết mới quen ở Hà Nội, là một người có tư tưởng thâm sâu, có căn bản về triết lý, giúp lập trường của tờ báo thêm phong phú ; Kha sáng tác thơ, Luận viết truyện, Lãng chuyên về phóng sự và có tài viết kịch, thổi kèn saxophone. Khóa có óc kinh doanh, sau khi từ chức ở sở Quan thuế, và từ chức hội viên Hội đồng thành phố, bèn tính chuyện thầu xây cất và giúp gia đình Văn hóa về mặt tài chánh. Khóa cũng giúp Tân có việc làm để có tiền tiếp tục học trường thuốc.

Có hai người sắp lên đường đi xa : Hãng được học bỗng sang Pháp học luật, Hiển được gửi vào Nam học trường Sĩ quan Thủ Đức.

Sau khi Hiệp định Genève đưọc ký kết vào tháng 7 năm 1954, phần đông dân chúng chống việc chia đôi Đất Nước. Khiết nói : “Tình cảm thì chân thành, nhưng thực lực thì không có, làm được gì bây giờ ? (…) Cả hai mươi nhăm triệu con dân, trừ một thiểu số Cộng sản dĩ nhiên, cũng khóc thầm như vậy nhưng làm được gì bây giờ ? Tụi Pháp mất mặt từ nay, Việt Minh lộ mặt từ nay, chúng mình vào Nam cố mà xây dựng gấp chính nghĩa Quốc gia.”

Rồi phong trào di cư lớn mạnh, người đi kẻ ở đau lòng, bịn rịn nhau. Tân, trước đây được Khóa giới thiệu vào làm cho Viễn Đông Ngân Hàng để có tiền tiếp tục học ngành thuốc, Tân theo ngân hàng này vào Nam.

Còn Khóa nhận lời cộng tác với hãng Autrex ở miền Trung, Khóa về đón mẹ, bà Đô, đưa bà vào Đà Nẵng.

Kha đến thăm bà Phán, mẹ của Hãng, Vân và Thi ở làng Định Quyết, đề nghị đưa bà vào Nam, nhưng bà từ chối, Thi đã chết, bà muốn chờ Vân, và bà nhắn với Hãng lúc đó còn ở bên Pháp hãy về thẳng trong Nam, khi nào bà cải táng xong cho ông Phán, bà có thể vào Nam.

Những thành viên của gia đình Văn Hóa lần lượt di cư. Khiết thì hẹn với độc giả sẽ gặp lại trong Nam.

Chỉ có Hữu nhất quyết ở lại. Hữu can trường, nói sẽ kháng chiến chống lại cộng s ản.

Trong các nhân vật trên đây, Kha là nhân vật nổi bật nhất. Kha tên Phạm Mạnh Kha, là người con duy nhất của ông bà Giáo Lãm ở làng Định Quyết. Tuy là con nhà khá giả, Kha giàu lòng thương người, thuở nhỏ đã giúp một người bạn nghèo, Kha thấu rõ hoàn cảnh những người nghèo, bạc phận, khốn đốn trong làng, như anh Cầu và hai người con gái tên Ngân và Tín. Cũng trong làng Định Quyết có gia đình ông bà Phán. Hai gia đình thân nhau. Kha là con người giàu tình cảm, lãng mạn. Kha và Vân yêu nhau. Lúc đó Vân học trường Pháp và có một người bạn tên Quỳnh Hương, con nhà nghèo Vân thường giúp đỡ. Kha đỗ tú tài ở Hà Nội, rồi học năm PCB, năm Dự bị khoa học, định sau này học trường thuốc. Khi quân Pháp vào đóng ở Hà Nội, Kha hoàn toàn bỏ học, gia nhập tự vệ khu phố. Trong không khí cách mạng tưng bừng, Kha nhận thấy mối tình đối với Vân chỉ là phụ trong một bối cảnh mênh mông, hùng vĩ của cách mạng.

Rồi chiến tranh bùng nổ, gia đình ông bà Phán lên sống ở đồn điền Lợi Ký, ở Phú Thọ. Sau khi ông Giáo mất, Kha định mãn tang sẽ xin phép mẹ đi hỏi Vân làm vợ, nhưng bà Giáo cũng qua đời. Và hoàn cảnh chiến tranh đã làm cho cuộc đời của Kha và Vân chia đôi ngả, ly biệt nhau.

Khi Kha cùng Hiển, Miên về thành thì Kha dạy học, đi thư viện, tham gia hoạt động của gia đình Văn Hóa. Miên làm y tá ở nhà thương Phú Doãn. Miên vẫn yêu thầm Kha.

Gặp lại Tân cũng về tề, Kha vui mừng, hai người bạn nhớ lại thời quen nhau ở đồn điền Lợi Ký. Nay Tân tiếp tục học trường thuốc.

Kha vẫn gắn bó với làng quê và bà con ruột thịt còn lại. Kha trở về làng Định Quyết để long trọng làm lễ giỗ mẹ với sự hiện diện của bà ngoại và bà con cô bác. Vào dịp này Kha gặp lại bà Phán, bà đưa Thi về Hà Nội chửa bệnh. Vân ở lại vùng kháng chiến và đã có một đứa con với Chủy, Nguyễn Đức Mạnh. Có tin Mạnh chết vì bom đạn, không tìm ra xác.

Tình trạng đất nước khiến Kha có cảm tưởng một cái gì sắp đổ xuống đầu những người quốc gia : thực dân Pháp vẫn còn đó, những người quốc gia thì ươn hèn, tiêu cực. Hằng ngày cắm cúi viết, Kha nghĩ : Sống là cố gắng thường xuyên để tái lập một thế quân bình luôn luôn đổ vỡ. Tìm ý nghĩa của cuộc đời là tìm ý nghĩa của đau khổ, ý nghĩa này giúp Kha thêm can đảm, kiên nhẫn và thêm tin tưởng.

Trong không khí rộn rịp của phong trào đi Nam, Kha và Miên – lúc đó Miên đã đổi về làm việc ở nhà thương Hải Phòng – đều có ý định cùng lên đường di cư. Vào Nam họ sẽ chờ Hiển ra trường để làm lễ cưới. Trước khi lên đường vào Nam, Kha trở về làng Định Quyết để từ giã bà con, Kha không cầm được nước mắt.

Trở về Hải Phòng, giữa lúc Kha và Miên bàn tính với nhau về việc di cư thì bất ngờ Vân xuất hiện. Thấy vẻ sửng sờ của Kha, Miên biết rõ mối tình của Kha, bèn rút lui, và thừa dịp có lệnh của nhà thương gửi đến buộc Miên đưa thuốc men, dụng cụ vào Nam trước, Miên lên đường sớm không chờ Kha.

Khi còn ở Hà Nội, Kha ao ước gặp lại Vân. Nhưng Vân lẫn tránh. Giờ đây ở Hải Phòng, Kha chờ lên đường với Miên thì đột ngột Vân xuất hiện. Không chờ đợi mà bất ngờ Kha đã trải qua với Vân những giờ phút hạnh phúc nhất đời. Đứa con của Vân vẫn bị Đoàn thể giữ làm con tin. Nghe Kha lo việc lên đường vào Nam, mắt Vân thoáng buồn. Vân cho biết đã đọc hết văn thơ Kha viết từ ngày Kha trở về Hà Nội, vùng Quốc gia. Kha khẳng định sự công phẫn của mình là của một tâm hồn ngay thẳng. Kha đóng góp vào công việc xây dựng mai sau dù là một đóng góp nhỏ nhưng có thực vì lòng nhiệt thành. Kha nói với Vân : “Giữa những dãy kéo, những bạo hành của cuộc đời, ta còn những người thân, còn những tri kỹ, nhưng điều cần nhất là còn chính mình, bởi vì khi mình không còn thì những ai kia còn cũng bằng thừa.”

Kha và Vân sống qua một tuần lễ hạnh phúc. Đã một tuần qua tình yêu chứng nghiệm cho hai người thấy rõ rằng hương tự do, ánh sáng tự do ngào ngạt và chói lọi tỏa ra tự hồn họ. Họ không tự giải phóng, họ chính là sự giải phóng… Vân đến với chàng như một nghi lễ dâng lên cho sự sống muôn đời…

Vào Nam, Kha nhận được của Vân ba lá thư. Vân viết : “Em muốn giữ lại miền Bắc một kỷ vật của anh, em muốn nuôi nấng đứa con đó – nếu có – theo tinh thần phóng khoáng của anh ở ngay miền tình cảm cằn cỗi này.

Với anh, giờ đây em cũng là « Người đàn bà bên kia vĩ tuyến » NGƯỜI ĐÀN BÀ BÊN KIA VĨ TUYẾN của anh đã chấm dứt hàng chữ cuối cùng của lá thư cuối cùng này ở đây.

Hôn anh một cái hôn làm nổ vỡ tinh cầu nhưng tình chúng ta thì chói rạng mãi mãi. Vĩnh biệt anh.”

No comments: