Jul 22, 2021

Giannis Antetokounmpo: Trẻ em di dân hãy biết ước mơ và nỗ lực biến nó thành hiện thực - Hưng gàn

Vào ngày Thứ Ba 20/07/2021, đội Milwaukee Bucks đã trở thành nhà vô địch NBA lần thứ nhì sau 50 năm, sau khi đánh bại đội Phoenix Suns trong vòng chung kết NBA Finals với tỉ số 4-2. Người hùng của đội Bucks không ai khác hơn là cầu thủ gốc Hi Lạp Giannis Antetokounmpo, ghi 50 điểm trong trận đấu thứ sáu quyết định, và đã được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất của vòng chung kết (MVP Finals). Ít có người biết Gigannis có nguồn gốc từ một gia đình di dân Nigeria đến định cư tại Hy Lạp. Trong buổi trả lời phỏng vấn ngay sau khi dành chức vô địch NBA, Gigannis đã có nói về hành trình gian khổ của mình để đi đến vinh quang tột đỉnh của ngày hôm nay, đồng thời gởi thông điệp đến với các trẻ em di dân từ lục địa đen cũng như toàn thế giới.

Theo www.characters.gr , Giannis Antetokounmpo là con của một gia đình di dân bất hợp pháp Nigeria đến Hi Lạp. Gigannis sinh ra ở thủ đô Athen vào ngày 6 tháng 12 1994. Mặc dù Gigannis và 3 người anh em sinh ra tại Hy Lạp, nhưng không ai trong số họ đương nhiên có quốc tịch Hy Lạp. Cho đến năm 18 tuổi, Ginnanis là một cư dân không có giấy tờ cho cả nguồn gốc Nigeria lẫn Hy Lạp.

Gigannis kể lại rằng bởi vì là di dân bất hợp pháp, cha mẹ của anh luôn luôn lo lắng, không dám tin tưởng một ai. Họ lo rằng người hàng xóm có thể than phiền rằng gia đình của anh có đám con nít quá ồn ào, và có thể gọi cảnh sát, thế là gia đình có thể bị trục xuất bất cứ lúc nào.  Cha mẹ của anh cũng như bao di dân khác, rất khó khăn để tìm việc. Gigannis và người anh là Thanasis đã phụ giúp cha mẹ bằng cách bán hàng rong đồng hồ, kính mát…

Gigannis bắt đầu chơi bóng rổ từ năm 2007, đến năm 2009 thì chơi cho đội bóng trẻ Filathlithikos ở Athen. Đến tháng 4 năm 2013, Gigannis được tuyển dụng trong kỳ NBA Draft bởi Milwaukee Bucks, và ở lại với đội bóng này cho đến khi đoạt chức vô địch NBA năm nay.

Là một trẻ thơ di dân, Gigannis có sự phấn đấu, nỗ lực phi thường vẫn thường thấy ở những người di dân khi có được cơ hội đổi đời trên quê hương mới. Gigannis cũng biết trân quí những gì mà mình được có được sau cuộc đổi đời, luôn tri ân những người đã giúp đỡ mình. Vào tháng 9 2016, Gigannis được ký gia hạn hợp đồng 4 năm với đội Bucks với mức lương $100 triệu. Anh đã gọi điện thoại cho chủ đội bóng bóng Wes Edens để cảm ơn, và nói rằng số tiền này có ý nghĩa rất lớn đối với anh và gia đình. Anh hứa sẽ nỗ lực hết mình cho đội bóng. Sau đó anh nổi hứng mời gia đình và bạn bè đi ăn steak ở tiệm ăn sang trọng The Capital Grille ở Milwaukee. Sau khi thấy nhà hàng dọn steak ra cùng với những món ăn phụ và tráng miệng, anh hơi lo thầm trong bụng, vì không biết ai sẽ trả tiền cho những thứ này, trong khi anh chỉ gọi đúng steak!

Trong buổi trả lời phỏng vấn ngay buổi tối đoạt chức vô địch NBA và MVP Finals, Gigannis nói rằng khi bắt đầu chơi bóng rổ, anh không hề nghĩ đến đỉnh cao sự nghiệp như ngày hôm nay, mà chỉ nghĩ đó là cách kiếm tiền để giúp đỡ gia đình. Anh luôn luôn phấn đấu, nghe lời huấn luyện viên để không ngừng nâng cao thể lực, trình độ kỹ thuật. Gigannis đã khởi đầu chơi ở vị trí point guard, để rồi sau đó trở thành một trong những cầu thủ chơi vị trí center giỏi nhất NBA hiện nay.

Gigannis đã gởi lời nhắn nhủ đến những trẻ em di dân từ lục địa Phi Châu cũng như toàn thế giới rằng hãy tiếp tục nuôi dưỡng những ước mơ, và không ngừng phấn đấu để thực hiện ước mơ đó.

Câu chuyện của Giannis Antetokounmpo là câu chuyện của những người di dân Mỹ. Bất kể đến từ đâu, bất kể màu da, bất kể chủng tộc,  giá trị của người di dân chỉ có thể được đánh giá trên sự phấn đấu và những đóng góp của họ cho quê hương mới.

Dân Việt  

KHI VUI KHI BUỒN - Nui, Cỏ

 Học bơi, học đàn ... không phải lúc nào cũng vui 🤡😩




***
Có công mài sắt, có ngày nên .. tiếng đàn hay nha Cỏ!
(như tiếng đàn của Tâm Xuân, con nuôi bà út nè) 



LỀU TRÕNG ĐI ... - Nui, út

Trẻ (út) đi thi
Nui đi chơi nhà trẻ



***







Lều trõng đi thi  .. chữ Hòa Lan
Hình ảnh mang về - toàn xôi, không thấy chữ
😊

Jul 21, 2021

MẶC CẢM TỰ TI, MẶC CẢM TỰ TÔN - Doãn Cẩm Liên

Thật lạ lùng mà nhận ra rằng tôi thấy mình không còn tự tin khi bất chợt gặp người Mỹ da trắng nào ở ngoài đường nữa. Trước đây thì không như vậy. Khi đi bộ quanh xóm, đối diện với người đi ngược chiều, thường tôi hay hoan hỉ chào họ trước. Còn bây giờ có một cảm giác mình thấp hèn so với họ, là người đến ở nhờ nhà họ, đến hưởng ké nền văn minh khoa học của họ, đến để làm gánh nặng cho họ. Cảm giác này làm tôi mất tự tin. Mất tự tin có đưa đến mặc cảm tự ti không? Tôi đang rà soát lại cho chắc là có phải mình mắc phải chứng “tự ti”?

Hội chứng mặc cảm này chỉ cách đây khoảng chừng một năm, khi còn trong thời gian phải giữ khoảng cách vì dịch covid. Hôm đó tôi nghe tin người bạn bị một bà da trắng ngồi xe bên kia, cũng đang chờ đèn đỏ, ra dấu hạ kính xuống, cô ta không hiểu mô tê gì nên hạ kính xuống thì được nghe là “Mày cút về Tàu đi!” Và thêm rất nhiều chuyện người châu Á bất kể Tàu, Đại Hàn, Việt Nam khác bị hành hung ngoài đường, bất chấp người đó già hay là phụ nữ ở khắp nước Mỹ. Và từ đấy tôi mất thói quen chào trước. 

Nhìn lại hoàn cảnh gia đình mình, thằng em trai kế tôi nhập cư vào Hoa Kỳ lâu nhất vào năm 1986. Sau đó bảo lãnh các gia đình chị em còn lại, mười một năm có lẻ. Năm 2006, chúng tôi có mặt tại California cho đến hôm nay. Đến nay mọi người đã an cư lạc nghiệp với công ăn việc làm ổn định, đóng thuế cho chính phủ Hoa Kỳ cũng đàng hoàng. Có đứa đã nhập lưu có công việc trong “dòng chính”, có đứa làm việc trong cộng đồng người Việt, thế nhưng sao trong tôi vẫn còn gờn gợn nỗi ngại ngùng là mình người ngoài luồng!

Điều này tôi đem ra tâm sự với người trong chị em trong nhà và tăng thân của mình, tất cả cùng đều là người Việt. Ai cũng cười và khuyên lơn “Không nên nghĩ thế, vì mình đến đây, đi làm và đóng thuế đàng hoàng.” “Người Việt mình đã làm được rất nhiều việc cống hiến cho nước Mỹ nói chung, nền khoa học nước Mỹ nói riêng. Như khoa học gia Dương Nguyệt Ánh được mệnh danh “bomb lady”, như ông Nguyễn Xuân Vinh nguyên là Giáo Sư – Kỹ Sư về Aerospace Engineering trường University of Michigan và làm việc cho Nasa viết chương trình quỹ đạo cho phi thuyền, và nhiều nhân vật khác đã làm nên những công trình sự nghiệp to lớn khác cho nước Mỹ. Các vị tướng lãnh gốc Việt trong quân đội Hoa Kỳ. Về phần văn học nghệ thuật có Ocean Vương, Nguyễn Thanh Việt, Le Ly Hayslip… Nghe như thế tôi cảm thấy yên tâm hơn và tự tin hơn khi đối diện tôi là một người da trắng.

Tôi cám ơn bài viết “Nước Mỹ không thuộc một sắc dân nào”, ông Ngô Nhân Dụng viết về Ocean Vương và tác phẩm “Night Sky with Exit Wounds”. Ông lý luận rằng người da trắng ngộ nhận Hoa Kỳ là đất nước của họ và người nhập cư đến sau ngỡ rằng mình là người ở nhờ ở đậu. Không phải đâu. Số người ngộ nhận và số người ngỡ rằng không nhiều lắm. Mà để giải quyết sự việc trên chỉ có cách đi học, học hành đàng hoàng, rồi đi làm một cách nghiêm túc thì tự tôn hay tự ti đều biến mất.

Tôi rất thích đoạn kết của ông Ngô Nhân Dụng khẳng định rằng “Một điều những người trẻ có thể hơn thế hệ cha mẹ của họ, là họ không còn mặc cảm về màu da, về văn hóa đặc biệt của mình, dù mình hoàn toàn khác với “Dòng Chính”. Vứt bỏ được các mặc cảm, họ sống hạnh phúc hơn. Họ yêu thương, không nuôi thù hận dễ dàng hơn. Bằng chính lối sống của mình, họ sẽ thay đổi thái độ của những người Mỹ khác, kể cả những người sẵn mặc cảm tự tôn. Nước Mỹ không thuộc một giống dân nào cả.”

Và câu trả lời Ocean Vương với phóng viên về việc nhà thơ sống ở New York kể chuyện cuộc sống và người xung quanh mình thì “Điều tôi biết là khi mình muốn kể chuyện cho mọi người nghe, mình sẽ thấy rất khó ghét được người khác!”

Tôi bây giờ khác với tôi ở những dòng đầu tiên của bài viết vì đã thấm ý hai vị “thầy” Ngô Nhân Dụng và Ocean Vương. Tôi đã lấy lại “tự tin” mà không cần “tự tôn” để không bị vướng vào “tự ti”!

California, ngày 21 tháng 7, 2021

Doãn Cẩm Liên


Ngô Nhân Dụng

July 19, 2019

Ocean Vương và quyển “Night Sky with Exit Wounds” của anh. (Hình: kundiman.org)

Ocean Vương đang là một tác giả được dư luận chú ý. Cuốn “On Earth We’re Briefly Gorgeous” là tiểu thuyết đầu tay của anh; mới ra đời mấy tháng đã được rất nhiều nhà phê bình văn chương ở Mỹ và Anh khen ngợi.

Cuốn tiểu thuyết “Trên Trái Đất…” này mang hình thức một bức thư dài của nhân vật chính gửi cho mẹ. Nói đúng ra, đó là những lời thủ thỉ với mẹ. Vì bà mẹ không đọc được tiếng Anh.

Cậu bé từ nhỏ đã được mẹ và bà ngoại đặt tên là “Chó Con” (Little Dog), theo mẹ cùng bà sang sống ở Hartford, thủ phủ tiểu bang Connecticut từ năm hai tuổi. Năm nay Ocean Vương đã 30, nhưng mẹ (Lan), cũng như bà ngoại (Hồng), vẫn “mù chữ Anh,” mẹ không đọc được bức thư con viết.

Trên đài truyền hình NBC ngày 12 Tháng Sáu, 2019, Ocean Vương trả lời ký giả Seth Meyers, khi nhà báo hỏi chính mẹ anh nghĩ thế nào khi con mình thành công.

“Bà rất hãnh diện,” Ocean Vương kể lại lần đầu bà đi theo con đến một buổi “đọc sách” (người Việt gọi là ra mắt sách). Vì vốn tiếng Anh rất giới hạn nên bà chỉ tới đó để nhìn con mình đọc cho người ta nghe. Bà được thấy cả phòng vỗ tay, đứng dậy vỗ tay. Quay lại nhìn, Ocean Vương thấy mẹ đang khóc.Ocean Vương biết mẹ không khóc vì cảm động vì những câu văn mình mới đọc; nói với nhà báo, “Mẹ đâu có nghe được gì đâu!” Anh hỏi: Mẹ sao vậy? Con có làm gì cho mẹ buồn không?

Bà mẹ trấn an: “Không sao, không sao.” Rồi, Ocean Vương dịch cho Seth Meyers hiểu, bà nói: “Mẹ không ngờ còn sống tới ngày trông thấy bao nhiêu người, toàn những người da trắng già vỗ tay hoan hô thằng con của mình!”

Bà mẹ lúc đó mới 48, 49 tuổi. Những độc giả tới nghe Ocean Vương đọc chắc phần lớn ở tuổi về hưu, trên 60, đúng là những “người Mỹ da trắng già!” Họ vỗ tay hoan hô tác giả cuốn “On Earth We’re Briefly Gorgeous,” viết bằng tiếng Anh, tiếng nói của “người Mỹ da trắng.”

Bà mẹ không được chứng kiến cảnh con trai bà đi nhận các giải thưởng văn chương, như T.S. Eliot Prize và Whiting Award, khi anh mới xuất bản tập thơ đầu tay của mình, “Night Sky With Exit Wounds” từ năm 2017; tập thơ mà Michiko Kakutani, nhà phê bình kỳ cựu của nhật báo New York Times đã so sánh với thơ Emily Dickinson. Bà mẹ cũng không được chứng kiến cảnh Chó Con bước lên khán đài nhận giải Forward prize tại Royal Festival Hall, London, Anh Quốc.

Tập thơ “Trời Đêm …” (Night Sky) gồm những bài Ocean Vương viết trong lúc may mắn được vào học văn chương ở Brooklyn College, buổi tối đi lau phòng vệ sinh ở tiệm bánh Panera Bread lãnh lương $8 một giờ, đêm về nghiền ngẫm thơ Baudelaire và Langston Hughes, Allen Ginsberg và John Ashbery.

Nhưng khi viết tiểu thuyết “Trên Trái Đất …” Ocean Vương đã khá giả hơn một chút, dạy thi ca ở đại học New York University. Và bây giờ, với cuốn “On Earth We’re Briefly Gorgeous,” gia đình đang ở Northampton, và anh dạy ở đại học University of Massachusetts tại Amherst.

Chắc chắn bà mẹ phải sung sướng, hãnh diện khi thấy những tiến bộ trong đời sống vật chât, nghề nghiệp của Chó Con. Nhìn thấy bao người đứng dậy vỗ tay hoan nghênh con mình, lần đầu tiên, bà mẹ tất nhiên phải khóc vì cảm động; và hãnh diện. Nhưng bà nói cho con nghe rõ, những người vỗ tay này là “những người da trắng,”

Tại sao phải nói rõ “những người da trắng?” Khi Ocean Vương dịch cho Seth Meyers nghe thì chắc nhà báo và khán giả đài NBC không chú ý đến những tiếng “người da trắng” trong câu bà mẹ nói. Và chắc Ocean Vương dịch các chữ đó để thuật lại trung thành những lời mẹ nói nhưng chẳng quan tâm đến chi tiết “da trắng” mấy.

Muốn hiểu tâm trạng của bà mẹ này, chúng ta thử tưởng tượng. Nếu một đứa con của mình được trao huy chương vàng trong một cuộc thi đua nghiên cứu khoa học của “Hội Sinh Viên Gốc Á Châu” ở Mỹ thì chúng ta có hãnh diện không? Tất nhiên ai cũng hãnh diện. Nhưng nếu con mình lại chiếm giải trong một cuộc đua của tất cả các sinh viên nước Mỹ, và cha mẹ chứng kiến con mình lên khán đài được hội trường vỗ tay, đa số các giám khảo và người tham dự là người da trắng, thì chắc cha mẹ còn sung sướng hơn nữa.

Câu nói của bà mẹ Ocean Vương ẩn chứa một tâm lý tế nhị. Thành công ở nước Mỹ chỉ đáng kể nếu là thành công trong “Dòng Chính.” Mà “Main Stream” ở Mỹ là người Mỹ da trắng.

Khi còn ở Sài Gòn bà mẹ Ocean Vương mất việc làm ở một tiệm hớt tóc khi công an khám phá ra mấy chị em bà là “Mỹ lai.” Ông bố là một nông dân ở tiểu bang Michigan, gia nhập hải quân, qua Việt Nam với cây kèn “trumpet,” và kết hôn với một cô gái quê. Giấc mơ của ông là trở thành một “Miles Davis,” nhạc sĩ da đen thổi trumpet nổi tiếng.

Sau khi sinh được ba con gái, ông về nước thăm gia đình, sau đó đứt liên lạc khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam. Bà mẹ phải gửi mấy cô con gái cho người khác nuôi để khỏi bị chế độ mới chú ý. Đến thời có bang giao Việt Mỹ, mấy mẹ con mới đoàn tụ. Nhưng vì mấy đứa con lai, họ “bị đuổi” ra khỏi quê hương Việt Nam, được cứu sang ở một trại tị nạn bên Philippines.

Sau khi nhờ Hội Từ Thiện Salvation Army đưa qua Mỹ năm 1990, chắc bà mẹ cũng trải qua kinh nghiệm bị người chung quanh chú ý vì màu da bà không được trắng! Bà đã trải qua kinh nghiệm bị người chung quanh đối xử phân biệt vì khác màu da, hai lần, ở Việt Nam và ở Mỹ.

Vì vậy, bà hãnh diện khi thấy con mình được vỗ tay, nhưng càng hãnh diện hơn khi nhìn những độc giả ái mộ toàn là “Mỹ trắng.”

Đây cũng là tâm lý bình thường của nhiều người Á Châu sống ở Mỹ, trong thế hệ thứ nhất. Họ mang sẵn trong đầu hình ảnh “nước Mỹ là của người da trắng.”

Nhiều người “Mỹ trắng”cũng nghĩ USA trước hết là nước của họ. Nói rõ hơn, của WASP, những người Da Trắng, Anglo Saxon và theo đạo Tin Lành, Protestant. Tất cả những người khác, cũng là người Mỹ đó, nhưng không thể so sánh được với WASP. Nhóm người này là một thiểu số, nhưng khi họ biểu dương sức mạnh chính trị thì họ gây ảnh hưởng rất lớn.

Thế hệ di dân thứ hai, những người như Ocean Vương, nghĩ khác. Anh nhắc lại lời mẹ nói sau khi thấy con được vỗ tay, nhưng thú thật mình không bao giờ tưởng tượng được mẹ lại nghĩ anh “thành công” là như thế – là được người “da trắng” hoan nghênh. Lớn lên, hoặc sinh ra ở Mỹ, thế hệ thứ hai coi Hiệp Chúng Quốc là một quốc gia đa chủng tộc và đa văn hóa. Và thế hệ trẻ này không mang mặc cảm về màu da của mình.

Họ hết mặc cảm là nhờ kinh nghiệm sống. Khi đi học, khi làm việc, các bạn trẻ gốc Việt Nam không thấy mình thua kém một sắc dân nào. Khi vào làm việc ở một công ty như Facebook, có thể thấy chung quanh đa số là người gốc Ấn Độ hoặc Trung Hoa, những người da trắng cũng không đông đảo vượt trên các sắc dân đó. Nếu trong sở làm nhân viên gốc Việt thấy mình là hiểu số, thì họ cũng biết lý do: Ít sinh viên Việt Nam qua Mỹ du học bằng số người từ Ấn Độ, Đài Loan và Trung Quốc.

Một điều vui khi đọc Ocean Vương trả lời các cuộc phỏng vấn, là anh không tỏ ra có mặc cảm nào về nguồn gốc Việt Nam của mình (ba phần tư dòng máu Việt). Anh nói, khi viết cuốn tiểu thuyết “On Earth We’re Briefly Gorgeous,” anh nhắm gửi cho “thế hệ trẻ” những người Mỹ gốc Việt Nam.

Dù sang ở Mỹ từ năm lên hai tuổi, Ocean Vương nói tiếng Việt thông thạo, chắc nhờ mẹ và bà ngoại chỉ nói tiếng Việt trong nhà! Ocean Vương rất hãnh diện về bà mẹ của anh. Bà mẹ đã giúp anh “mang ngôn ngữ trong mình” và  sống “trong giờ phút hiện tại.” Từ năm 15 tuổi, Ocean Vương cũng thực tập Thiền quán, đặc biệt là “Quán Sự Chết.” Anh hay sang nghĩa địa gần nhà để quán tưởng, “rửa sạch đầu óc” bên những mộ bia.

Ocean Vương nghĩ rằng nói tiếng Việt là một điều rất ích lợi cho công việc làm thơ viết văn của mình. Đó là một ngôn ngữ có dấu giọng, thay đổi âm trầm bổng, mấy chữ như ma, má, mả, mỗi chữ có nghĩa khác hẳn nhau. Người nói phải hết sức chú ý. Nhờ thế mà khi viết (tiếng Anh), mình sẽ tìm những từ ngữ sao cho chính xác như vậy.

Cuối cuộc phỏng vấn với tác giả Seth Meyers, Ocean Vương được nói mấy câu với mẹ, bằng tiếng Việt: “Cám ơn mẹ, con rất là tự hào là con của mẹ. Con rất là vui và hạnh phúc. Cám ơn mẹ nhiều. Con thương mẹ nhiều lắm!”

Không biết có bao nhiêu bạn trẻ người Việt trả lời một ký giả “Mỹ trắng” trên truyền hình nói như vậy?

Một điều những người trẻ có thể hơn thế hệ cha mẹ của họ, là họ không còn mặc cảm về màu da, về văn hóa đặc biệt của mình, dù mình hoàn toàn khác với “Dòng Chính.” Vứt bỏ được các mặc cảm, họ sống hạnh phúc hơn. Họ yêu thương, không nuôi thù hận dễ dàng hơn. Bằng chính lối sống của mình, họ sẽ thay đổi thái độ của những người Mỹ khác, kể cả những người sẵn mặc cảm tự tôn. Nước Mỹ không thuộc một giống dân nào cả.

Ocean Vương kể cuộc sống của một nhà thơ sống ở New York; lúc nào cũng chú ý quan sát người chung quanh. “Điều tôi biết là khi mình muốn kể chuyện cho mọi người nghe, mình sẽ thấy rất khó mà ghét được người khác!” 

- Ngô Nhân Dụng (tức anh Đỗ Quý Toàn) 

ĐI LĂNG QUĂNG

Hôm qua hai bạn của chồng mình lại đến thăm.
Mang nhiều bánh eclair đến ăn ... cho quá nhiều năng lượng.
Mình mượn lúc bạn babysit chồng, mình tự đi loăng quăng. 😊😍










***









ĐI DẠO PHỐ BAN ĐÊM MÙA DỊCH - Ti Cỏ San

Đi dạo buổi tối mùa dịch nè út. Vắng hơn đêm 30! - San











cuồng chân nhảy chơi ... 😁

***
Cũng hình ảnh về Sài Gòn mùa dịch - Na gửi út coi





Jul 20, 2021

THƯ QUÁN BẢN THẢO VÀ TRẦN HOÀI THƯ "LÌ" - Doãn Cẩm Liên


Hai vợ chồng chúng tôi vừa có một chuyến đi chơi chín ngày tại bờ Đông Hoa Kỳ, bang Virginia và New Jersey. Cũng có thể gọi đó là chuyến Trở Về Dĩ Vãng thi vị hóa chuyến đi thêm một tí. Đúng là toàn ôn chuyện xưa thôi. 

Anh xã làm quyển sách “Tuyển Tập Doãn Dân” cho nhà văn quân đội Trần Doãn Dân. Ông đã hy sinh tại chiến trường Mùa Hè Đỏ Lửa - Quảng Trị năm 1972. Rồi gặp gỡ nhà văn nhà thơ chiến trường Trần Hoài Thư tại New Jersey. Cần ghi chú thêm là cả hai vị văn thơ sĩ này đã vào làng văn từ thuở chiến trường còn sôi động giữa Quốc Gia và Cộng Sản trước 1975. Bên cạnh đó chúng tôi còn gặp một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, anh Lê Văn Trạch, người chỉ trở thành văn sĩ khi ông sang đến Hoa Kỳ, một đất nước tự do, dư ấm no và có dư thời giờ để ông bước vào làng nghề văn. Và Như Thương người bạn đằm thắm trong vai người tiếp lửa, tiếp nhiên liệu cho cuốn sách “Tuyển Tập Doãn Dân”.

Toàn ban chúng tôi được tiếp đón nồng hậu bởi gia đình bác gái Doãn Dân và năm nàng con gái của hai ông bà. Câu chuyện lẽ dĩ nhiên là xoay quanh người bố đã quá cố gần năm mươi năm, 1972 – Mùa Hè Đỏ Lửa. Nhà văn của “Chỗ của Huệ”, “Tiếng Gọi Thầm”, mà theo nhà phê bình văn học Nguyễn Vy Khanh: “Ở Doãn-Dân, văn-chương là cái gì còn lại, nơi lòng người, ở niềm tin tưởng vào một lý tưởng nhân sinh! Với một ngôn ngữ của sự sống trung thực và hết mình!” (1)

Nửa thời gian sau của chuyến đi, chúng tôi gặp gỡ anh Trần Hoài Thư tại New Jersey. Văn bất hư truyền về một Trần Hoài Thư người lưu trữ  nền văn học Miền Nam Việt Nam. Ông đã thu lượm một kho tàng sách, báo, tiểu thuyết, thơ văn, bất kể là văn chương Chiến Trường hay văn chương Đô Thị từ các thư viện lớn của Hoa Kỳ. Ông đặc biệt quí trọng và ưu ái nói về thư viện Cornell University Library tại New York. Nơi đây ông và vợ đã lui tới cả trăm lần trong một thời gian dài, bất kể Xuân Hạ Thu Đông, bất kể những ngày bão tuyết hay nắng cháy để lục và sao chép các văn bản, bản thảo, báo chí, tạp chí văn học nghệ thuật của Miền Nam Việt Nam cho tới 1975. Ông đã làm công việc bảo lưu và truyền bá nền văn học Miền Nam cho những thế hệ sau với một tinh thần vô vị lợi.

Trần Hoài Thư, cũng như “con người” của chàng trai Trần Quí Sách kể ra rất ư là đặc biệt. Cuộc đời gian nan khổ sở từ tấm bé, nghèo tiền bạc, thiếu tình thương của cha mẹ. Rồi đến khi đi lính, vào ngành thám báo, là một ngành vừa nguy hiểm, vừa tinh tế mọi mặt để sinh tồn và hiệu quả cho chiến trường nên tạo ra một ông Trần Hoài Thư rất “kỳ quái” và “hấp dẫn”. 

Kỳ quái trong chuyện lấy vợ, chị Yến người yêu mến nhất đời, cho đến chuyện đời lính trong binh nghiệp của ông, độc giả chỉ thấy chữ ba gai đan lẫn chữ uy hùng. Ông chỉ ngủ ngon khi nằm ngoài nghĩa địa, bên cạnh nấm mộ, dùng bia mộ che đạn kẻ thù khi chìm vào giấc ngủ say. Bằng ngược lại, trên giường êm nệm ấm thì người mất ngủ!

Hấp dẫn. Hẳn nhiên là Trần Hoài Thư phải hấp dẫn thì mới có một người con gái chịu lặn lội từ Cần Thơ lên kiếm gặp. Nàng gặp gỡ Trần Hoài Thư tại tòa soạn báo Bách Khoa qua sự kết nối của ông chủ nhiệm Lê Ngộ Châu. Chuyện tình có kết cục đẹp là chàng và nàng lấy nhau để có một tác phẩm bằng xương thịt “Thoại” và để có cách gọi tên êm đềm “Ba của Thoại”. Ấy vậy mà khi “Mẹ của Thoại” sau bốn lần bị nốc ao (knock out) bởi cái gọi là đột quỵ, chị đã gọi thẳng cái tên “Trần Hoài Thư”, rồi đuổi anh đi về với “Phương” đi! Trần Hoài Thư ôm đầu bứt tóc, làm gì có Phương nào trong cõi đời của anh? Về lục tìm trong Thư Quán Bản Thảo thì mới hay rằng có một nhân vật tên Phương thật, một cô gái điếm trên đường hành quân của người lính Bộ Binh. Thì ra nàng ghen! Ôi trời ơi, Yến ghen trong tâm tưởng, khi khối óc của nàng đã từ chối làm việc, thế nhưng vẫn còn một khu vực còn làm việc rất tốt đó là khu cất giữ tình yêu của nàng với “ba Thoại”.

Chỉ nội cái tên của anh “Hoài Thư” hay “Quí Sách” cũng đủ cho thấy anh quí sách vở, yêu văn thơ đến nhường nào. Anh ăn uống ngủ nghỉ cùng với sách. Sách bao vây anh từ nhà trên xuống đến tầng hầm. Các ram giấy đủ màu, bầy hàng hàng dẫy dẫy khép nép bên cầu thang lên xuống tầng trên và tầng giữa, chực chờ được mang ra ướp tẩm thơ văn. Trong phòng ngủ, bên cạnh chiếc giường con của anh là một lũ máy vi tính, máy in, máy photo copy. Cùng để phục vụ cho Thư Quán Bản Thảo là những máy đóng gáy, máy cắt xén giấy bầy la liệt dưới tầng hầm. Chúng thật hữu dụng để nuôi dưỡng Thư Quán Bản Thảo cho đến con số 94. Trần Hoài Thư rất hài lòng với lũ máy móc này. Không có chúng Thư Quán Bản Thảo làm sao sống được cho đến ngày nay.

Thư Quán Bản Thảo được cha Trần Hoài Thư đẻ ra. Cha sinh ra thì cha phải nuôi dưỡng con nó. Các bạn văn cười cười và đố Trần Hoài Thư nuôi được đứa con này sống dài lâu trong thời buổi kỹ thuật số, internet lan tràn. Thời mà con người ta chỉ thích nhắn tin ngắn, đối thoại ngắn, mấy ai thích đọc văn chương thơ thẩn dài dòng. Vậy mà, Trần Hoài Thư đã nuôi dưỡng đứa con tinh thần của mình được đến gần con số 100 và vẫn còn nuôi dài dài cho đến sức cạn thân mòn. 

Với chín mươi bốn (94) số trong mười chín năm dài, Thư Quán Bản Thảo đến tay độc giả khắp nơi gần xa đã nói lên cái đức tính “lì” của Trần Hoài Thư. Dùng chữ “lì” là có dụng ý bao gồm cả tính can đảm, cương quyết, và bền bỉ. Anh đã và đang làm những việc mà chỉ cái biệt danh khá dễ thương này “lì” dán lên là đúng thật đúng. Phải không anh Thư “lì”?

Trần Hoài Thư hít vào, thở ra cùng với thơ và văn. Suốt trong ba ngày được kề cận, hơi thở ra của anh là thơ. Thơ bay phơi phới cho chúng tôi hít vào:

Xe Tình – một chữ

Khi thời gian cướp của tôi gần hết
Mỗi ngày tôi vẫn đẩy xe tình
Mắt tôi lòa, ừ, thì tôi zoom in
100 chữ đánh sai, tôi chỉ cần một chữ
Một chữ mà tôi mang vào hơi thở…

Tôi đi đứng khó khăn, xiêu xiêu đổ đổ
Nhưng những ngón tay tôi còn nắm chặt tay em
Và khi em phát ra từ hai bờ môi câm
Một tiếng là tôi như hồi sinh trở lại…
Ba ngày khó quên
Cháu hỏi số 48
Chủ đề về Doãn Dân
Chú nói chú không còn
Nhưng sẽ in cho cháu
Thế rồi hai chú cháu
Cùng nhau xuống căn hầm
Cháu xếp giấy xếp trang
Chú dán bìa dán gáy…

Thở ra hít vào để chúng tôi và anh Trần Hoài Thư có ba ngày dường như dài vô tận, với tràn trề âm thanh vui, với dư thừa màu xanh tưng bừng. Chúng tôi nói cười ròn tan, đọc thơ nói thơ, kẻ tung người hứng. Ai hết đều vui vì có nhau. Không gian cũng như thời gian dường như ngừng lại. Không đâu, nó vẫn trôi băng băng đó chứ. Ba ngày rồi cũng phải hết, là chia tay. Bịn rịn làm sao tránh khỏi, nhưng Trần Hoài Thư đâu dễ dàng để mọi người lấy đi niềm hạnh phúc của mình. Như bài thơ 4 câu làm khi anh chờ khách đến và khi khách từ biệt: 

Mở cửa đón chờ khách 
Tay vẫy từ biệt người 
Ba ngày rồi cũng hết 
Chỉ còn lại tiếng cười

Chả trách chi Thư Quán Bản Thảo sống rất bền bỉ. Do vì cha đẻ của nó Trần Hoài Thư không để bất cứ một điều gì có thể hủy hoại được anh. Cha khỏe mạnh thì con dễ gì chết non!?

Đó, Trần Hoài Thư và Thư Quán Bản Thảo mà tôi thu tóm lại trong trang giấy này. Và ghi lại cũng giống như thương nhớ gửi về nơi nao…!

California, ngày 20 tháng 7, 2021

Doãn Cẩm Liên

(1) Nguyễn Vy Khanh: Nhà văn Doãn Dân, Thư Quán Bản Thảo số 46 tháng 4-2011

(1) Nguyễn Vy Khanh: Nhà văn Doãn Dân, Thư Quán Bản Thảo số 46 tháng 4-2011