Table decoration
Sep 23, 2018
Sep 20, 2018
KHÓC NGƯỜI VỢ HIỀN
Bà Tú ơi! Bà Tú ơi!
Té ra bà đã qua đời, thực ư ?
Tôi cứ tưởng nằm mơ quái ác,
Vùng dậy là tỉnh giấc chiêm bao
Tỉnh dậy, nào thấy đâu nào,
Nào đâu bóng dáng ra vào hôm maị
Đâu bóng dáng con người thùy mị,
Tuy tuổi già xấp xỉ bảy mươi,
Vần còn khỏe mạnh, vui tươi,
Le te, nhanh nhẹn như thời xuân xanh.
Nhìn sau lưng vô tình cứ ngỡ
Một cô nào thiếu nữ thanh tân.
Vậy mà cái chết bất thần
Cướp ba1 đi mất, vô ngần xót xa!
Kể từ thuở đôi ta kết tóc,
Thấm thoát gần năm chục năm qua
Thủy chung chồng thuận vợ hòa,
Gia đình hạnh phúc thật là ấm êm.
Tôi được bà vợ hiền thuần thục,
Cảm thấy mình tốt phúc bao nhiêu!
Đôi ta cùng một cảnh nghèo,
Đạo chồng vợ lấy chữ yêu làm nền.
Nhớ khi giường bệnh đã nằm,
Bà còn thủ thỉ tình thâm thương chồng
"Tôi mà chết thì ông sẽ khổ,
Vì, cứ theo câu cổ ngữ ta
Xưa nay con cái nuôi cha
Cũng không chu đáo bằng bà nuôi ông."
Bà ơi, hãy dầu lòng yên dạ,
Giấc nghìn thu cho th?o vong hồn,
Bà đi, đã có dâu con,
Một lòng phụng dưỡng, chăm nom bố già.
Tôi có khổ, âu là chỉ khổ
Vì thiếu bà, nhà cửa vắng tanh,
Khổ khi thức giấc tàn canh
Bên giường trống trải một mình nằm trơ.
Khổ nhớ lại sớm trưa ngày trước
Pha ấm trà chén nước mời nhau.
Giờ tôi chẳng thấy bà đâu,
Bên bàn thờ nhắp chén sầu đầy vơi...
Khổ những lúc ra sân mê tỉnh
Ngắm vườn nhà thấy cảnh thênh thang,
Mà bà khuất núi cho đang,
Quả cau tươi, látrầu vàng ai xơi ?
Khổ trông thấy cái cơi còn đó,
Đã khô trầu, khô vỏ, khô cau.
Ba thước đất đã vùi sâu
Cặp môi cắn chỉ ăn trầu đỏ tươi
Ngẫm: cảnh già cuộc đời sung sướng,
Tưởng vợ chồng còn hưởng dài lâu
Không ngờ con tạo cơ cầu,
Bà đi, để tủi dể sầu cho tôi
Ôi! Duyên nợ thế thôi là hết,
Năm mu_ơi năm thám thiết yêu nhau!
Bà về trước, tôi về sau
Thôi đành tạm biệt, nuốt sầu gượng vui
Bà đi rồi nhưng tôi phải ở,
Công việc đời còn dở tí thôi,
Bao giờ nhiệm vụ xong xuôi,
Về nơi cực lạc, lại tôi với bà...
TÚ MỠ
(19-11-1968)
ĐỆ THẤT CHU NIÊN NGÀY TẠM BIỆT MẸ THẢO
***
Còn đây là bàn thờ nhà Lampson, vào buổi sáng sớm chưa có mâm cơm cúng (sẽ vào buổi chiều) chỉ mới sơ khởi trái và cây. Xôi dừa mè đang còn trên bếp. Món chính là bún bò xào. Tao nhớ xưa mẹ làm món này thì thịt bò ít thôi, mẹ độn củ sắn. Nhưng vì tụi mình ngày xưa sức ăn nên độn sắn mà vẫn thấy ngon ơi là ngon.
Chiều nay mọi người tề tựu sẽ cùng nhau kể chuyện tiếp về mẹ. Phần Tư Liên thì nhớ mẹ ở da mẹ mềm và thơm. Mẹ nằm đó chứ ôm mẹ, mi mẹ thơm phức hà. Khi được mi mẹ còn cám ơn mình nữa chứ. Tuy vậy, bàn tay bên không cử động được có hơi ngai ngái mùi vì nắm chặt hoài, chỉ cần nhúng khăn lau là thơm phức liền.
Xôi đã xong bây giờ cho lên bàn thờ đây.
Tư Liên
@ HNHD gia trang
@ Alouis út 's gia trang
Sep 19, 2018
DOÃN QUỐC SỸ - KẺ SĨ THỜI ĐẠI
Doãn Quốc Sỹ qua nét vẽ Đinh Cường
Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923. Năm 1946, ông lập gia đình với con gái nhà thơ trào phúng Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu) là bà Hồ Thị Thảo. Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào Nam.
Từng dạy ở nhiều trường trung học công lập và là giáo sư trường Đại học Sư Phạm, Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Ông du học tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và rồi trở về nước tiếp tục công việc giảng dạy cho đến năm 1975.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một khuôn mặt văn chương hàng đầu của hai mươi năm văn học Miền Nam. Ông là một cây bút chủ lực trong nhóm chủ trương tạp chí Sáng Tạo và cũng là giám đốc nhà xuất bản cùng tên đã giới thiệu được nhiều tác phẩm có giá trị và nhiều cây bút tài hoa có khả năng.
Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Khu Rừng Lau, một trường thiên tiểu thuyết gồm có: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965), Những Ngả Sông (1966)…Theo Lê Văn, đặc phái viên Việt Ngữ của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, trong một cuộc phỏng vấn ông, có dẫn chuyện rằng “Ba Sinh Hương Lửa người ta thường ví như những tác phẩm lớn của Nganhư Chiến tranh và Hòa bình” trong đó nội dung mô tả lại những cảm xúc đớn đau của một thế hệ thanh niên mới lớn tham gia vào công cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng sau đó phát giác ra mình đã bị lợi dụng như công cụ đấu tranh giai cấp của những người cộng sản và “có lẽ chính vì thế mà anh đã bị cộng sản bỏ tù khi họ chiếm được miền Nam”
Sau năm 1975, ông bị chính quyền Cộng Sản giam cầm nhiều lần vì tội “viết văn chống phá cách mạng”, tổng cộng là 14 năm. Ông có tên trong danh sách những tên “biệt kích văn hóa”, bị bắt trong chiến dịch khởi động ngày 3 tháng 4 năm 1976, một năm sau ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, cùng hàng trăm nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ, nhân sĩ miền Nam bị xếp hạng “phản động”: Trần Dạ Từ, Đằng Giao, Nhã Ca, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Hữu Hiệu, Hoàng Anh Tuấn, Thân Trọng Kỳ, Hoàng Vĩnh Lộc, Trịnh Viết Thành, họa sĩ Chóe, Như Phong Lê Văn Tiến, linh mục Trần Hữu Thanh, linh mục Đinh Bình Định, thượng tọa Thích Huyền Quang… Ông được phép di cư sang Hoa Kỳ năm 1995. Hiện nay ông sống tại miền Nam California. Sau đây là một vài cảm nghĩ của nhà thơ Đỗ Quý Toàn về Doãn Quốc Sỹ.
Nguồn: Diễn Đàn Thế Kỷ
***
Với nhiều người bản xứ, hình như dư âm của cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn nên văn chương và văn hóa Việt Nam được đặc biệt chú ý. Tôi có một người bạn người Mỹ gốc Ý, cùng lớp Creating & Writing học viết văn, rất thích thú với văn chương Việt Nam. Một bữa anh khoe với tôi tuyển tập “Vietnam: A Traveler’s Literary Companion” do John Balaban và Nguyễn Quý Ðức chủ biên, và rất đặc biệt chú ý tới nhà văn Doãn Quốc Sỹ với truyện ngắn “The Stranded Fish” (Con Cá Mắc Cạn). Anh còn khoe đã được dự một cuộc seminar với hai giáo sư Doãn Quốc Sỹ và Lê Hữu Mục tháng 6 năm 1999 tại University St Thomas ở Houston với đề tài “Living Two Cultures: A conference for Vietnamese Americans”. Và anh hỏi tôi một câu: Bạn nghĩ thế nào về nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Nhà văn? Nhà giáo? Một người hoạt động chính trị? Hay một người yêu nước bị chế độ đương thời đày ải khi ở trong nước, và một nhà văn luôn hướng về tương lai ở hải ngoại?…
Có một người đã làm thơ để dường như trả lời giùm cho cá nhân tôi. Những câu thơ gợi ý và lấy từ những nhan đề của tác phẩm mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã viết trong suốt hơn một nửa thế kỷ cầm bút:
“Dòng sông định mệnh”, thiên thu
“Sầu mây” còn đỉnh mịt mù dương gian
Nước non mấy nẻo quan san
Lốc quay thời thế gian nan một đời
Ðến .Ði . Ði .Ðến. Ngược xuôi
Quê hương. Ðất lạ. Chỗ ngồi bụi không.
“Khu rừng lau” lửa mênh mông
“U hoài” đâu tiếng bên sông gọi buồn.
Ðường ranh lịch sử mỏi mòn
“Ba sinh” còn tấc “lửa hương” chập chờn
Ngã tư bước rẽ không hồn
Lưu lạc nào để mất còn hoang mang
“Ðàm thoại, độc thoại” từng trang
“Tình yêu thánh hóa” trường gian mấy nguồn
Biển khơi nào rã rêu rong
Ai trăng lụn tưởng nến chong dặm ngoài
“Giữ ngọc” thôi cũng “gìn vàng”
Xót thiên lương với ngỡ ngàng tâm tư
“Vào thiền” giây phút hoại hư
Kiết già ngục tối mắt tù chăm chăm
Trong tâm linh thoảng hương trầm
Trong lênh đênh có lời thầm đinh ninh
Thì thôi,”Mình lại soi mình”
“Dấu chân cát xóa” bóng hình nổi trôi
Người vái tứ phương”, một đời
Hoa thơm ngát để một trời mộng mơ
Kinh vạn quyển thiếu một tờ
Chữ vô tự nẻo mịt mờ muôn năm
Tâm ai vằng vặc trăng rằm
Lời ca dao vẫn tiếng ngâm triệu đời.
Bài thơ đầy những Dòng Sông Ðịnh Mệnh, Sầu Mây, U Hoài, Vào Thiền, Khu Rừng Lau, Ba Sinh Hương Lửa, Tình Yêu Thánh Hóa, Ðàm Thoại Ðộc Thoại, Gìn Vàng Giữ Ngọc, Mình Lại Soi Mình, Dấu Chân Cát Xóa, Người Vái Tứ Phương, Ði… Và cũng nêu được tính chất riêng của một kẻ sĩ phương Ðông, luôn luôn chân thành và tin tưởng vào cuộc đời ở những khía cạnh nhân bản tốt.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ra và trưởng thành trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt. Như một câu ví von của ông: “Ba sinh hương lửa” thành nhan đề của một tập trong trường thiên Khu Rừng Lau. Các nhân vật đã sống trong thời đại Pháp thuộc, Nhật thuộc, rồi Việt Minh, rồi đảng phái Quốc gia, rồi ở lại kháng chiến, rồi trở về thành phố mà thời ấy gọi là về Tề, bao nhiêu là biến chuyển, bao nhiêu là cảnh bể dâu. Rồi hiệp định Genève chia đôi đất nước, rồi chiến tranh tiếp diễn… Hình như, sống trong thời đại ấy, định mệnh đã đẩy con người đi vào những lối ngõ khác nhau và cho đến bây giờ, hàng triệu người lưu lạc xứ người và cuộc chiến vừa qua tới bây giờ vẫn còn hậu quả. Cuộc đời đầy những chuyến ra đi, rời quê Bắc vào Nam, rồi lại phải ra đi lần nữa. Lịch sử toàn là những chia ly tan tác .
Thế mà, ông viết văn trong cái tâm thái ung dung, dù đang trong cảnh tù giam bức bối. Vẫn thái độ tin vào mình, tin vào người, tin ở những điều tốt đẹp của cuộc sống. Ðộc giả khó tìm thấy những lời hằn học, những tâm trạng phẫn nộ. Viết văn, với ông, là một phương cách của “văn dĩ tải đạo”. Viết, như một cách để làm đời sống đẹp tươi thêm…
Những lúc thấy những cảnh tráo trở tàn nhẫn của người đời với nhau, tôi lại giở những “Gìn Vàng Giữ Ngọc”hay “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Ðiều” ra đọc. Những lúc buồn nhớ về quê hương, tưởng tượng ra những Hà Nội, những Sài Gòn, tôi đọc “Dòng Sông Ðịnh Mệnh” để thấy mình tìm lại cái rung động thuở nào khi đọc những câu thơ tả lại cảnh đạp xe theo một tà áo trắng, những câu dễ thương “Em nghèo ta có giàu đâu, Tịch liêu đổ xuống đôi đầu ngẩn ngơ. Hoe đôi mắt em vơ tà áo. Áo trắng boong ảo não hồn trinh. Lòng ta gợn gió ngây tình.Theo em nào biết chúng mình về đâu…” Và khi nào thấy đời sống có một chút gì sương khói, tôi đọc “Sầu Mây”, “Vào Thiền”…
Có người nói rằng văn chương mà mang thời thế làm đề tài thường tuổi thọ không dài bằng những đề tài xoáy sâu vào chân dung con người muôn thuở. Viết về thời thế khó có tác phẩm lớn. Nhưng tôi lại có ý nghĩ khác. Không có đề tài nào giới hạn cho những tác phẩm lớn. Nếu có tài năng, nhà văn sẽ viết những tác phẩm bất tử bất kỳ đề tài nào. Huống chi, một thời đại đặc biệt của dân tộc Việt Nam, nếu mô tả những cơn lốc thời cuộc sẽ có biết bao nhiêu chân dung con người điển hình cho những nhân vật tiểu thuyết tuyệt diệu….
Đỗ Quý Toàn
Sep 15, 2018
Subscribe to:
Posts (Atom)





































