Jun 24, 2017

TRUYỆN CHIẾC ÁO DÀI CỦA BÀ MẸ VIỆT NAM - HỒI BA




HỒI BA
VÀNG SON TÀN LỤI

Buồn thay cho chiếc áo, đoàn kình ngư vẫn nô rỡn nơi xa, chẳng một chút lưu tâm đến trò “Biển Đông sóng gợn” của nó. Một cặp vợ chồng cá chiên đương say sưa trong cuộc ẩu đả bỗng bị húc lộn ra xa vượt khỏi vòng mê hoặc của tia phóng xạ, cả hai thoạt bàng hoàng, quật đuôi một lần nữa khi vừa ngoi lên mặt biển. Bọt sóng tung lên như mưa bụi rơi xuống mát lạnh, hai vợ chồng con cá chiên tỉnh hẳn, định thần nhìn lại trời biển một màu xanh như ngọc thạch, chúng hả hê quẫy đuôi ra khơi xa hẳn vùng hắc ám.
Kế tiếp một đôi cá chiên khác vẫn còn trong vòng tác động của những tia phóng xạ, nhưng ở khoảng ngoại vi, chúng đương chiến đấu hăng với đôi địch thủ khác bỗng thấy giảm hào hứng đi nhiều. Thì ra năng lực phóng xạ của chiếc áo cũng đã bắt đầu suy giảm. Rồi không thấy sự hào hứng kích thích hai vợ chồng cá chiên như theo sự thúc đẩy của linh tính tự động lùi ra xa. Sau vài phút bàng hoàng đôi cá này nhận thấy biển trời vẫn một màu xanh quyến rũ, và cũng như đôi cá trước chúng vùng bơi ra khơi.
Rồi từng đôi cá chiên này, từng đôi cá chiên khác lần lượt thoát vùng mê hoặc… Sóng biển vùng đó vì vậy yếu dần và tất nhiên ngọn sóng chỉ huy nơi chiếc áo ngự trị cũng hạ dần cao độ. Lũ ngư loại bàng quan tuy vẫn reo hò khích lệ để duy trì lấy trò vui hiếm có, nhưng cũng đã có kẻ thấy chán, quay lưng bơi sang vùng khác. Có lũ mới từ xa lại, không có dữ kiện để so sánh, thấy trò chơi vẫn còn quyến rũ lắm và chúng reo hò cổ võ hết mình.
Nhưng càng về sau năng lực phóng xạ của chiếc áo càng sa sút đi rõ rệt, không những cả đoàn cá chiên đã thoát vòng mê hoặc mà ngay đàn cá thu cũng đã vợi thoát đi nhiều. Ngọn sóng chỉ huy thấp dần, khi độ thấp tới mức nhập làm một với các ngọn sóng thường khác thì thế giới mê hoặc của Chiếc Áo chỉ còn vừa đủ bao quanh lấy đàn cá chích đang vừa rào rạt ăn rêu ở đám rong biển rộng lớn, vừa hích đẩy nhau chí chóe. Chẳng bao lâu Chiếc Áo chìm dần xuống khoảng sâu lơ lửng như cũn. Căm phẫn lắm, Chiếc Áo thét lớn:
-               Chúng bay hãy hát khúc đồng ca! (Tức là khúc trường thi ca ngợi tiểu sử xưa.)

Tức thì cả đàn cá trích đồng ca một đoạn của khúc trường thi. Cũng cảm thấy lòng nguôi nguôi đôi chút, Chiếc Áo ngước nhìn mặt biển bên trên. Những linh chất tích lũy đã phung phí gần hết, giờ đây nó cảm thấy rõ là nó không còn cả lực để ngoi lên mặt biển nữa. Thôi thì số “dấn vốn” ít oi còn lại nó sẽ tiêu pha dè sẻn để cố giữ lấy lũ cá trích lâu chừng nào hay chừng nấy. Được cái lũ cá trích sau khi kiếm được no đủ thì trong thâm tâm cũng ao ước được hô theo một khẩu hiệu nào đó để cuộc đời thêm phần ý nghĩa. Bởi vậy nhiều khi Chiếc Áo chỉ việc hô lớn: “Ta sẽ chiến thắng một trận Hòn Hèo thứ hai!” là đàn cá trích hô lại y hệt không thiếu một chữ, mà Chiếc Áo kiểm soát lại, thấy không phải chi phí một ly phóng xạ nào. Nhưng rồi đau đớn thay, tới lúc gió mùa đổi chiều, cả đàn cá trích rào rào ra đi theo gió không một lời đoái hoài đến kẻ đã hàng ngày dạy chúng cùng hô lớn khẩu hiệu để tô điểm thêm ý nghĩa cho đời sống. Tới thay đàn cá trích là một đàn cá nhỏ hơn, nhỏ hơn nhiều lắm, đó là đàn cá cơm. Loại này đúng là loại tép riu của biển cả, (Cũng có thể là đàn cá cơm từ xưa vẫn ở nơi đây, mà bây giờ vì đàn cá trích đi rồi Chiếc Áo mới để ý thấy). Câu đầu tiên Chiếc Áo hỏi lũ cá cơm: “Tụi bay có thuộc khúc trường thi không?” May thay lũ cá cơm nhất loạt thưa: “Bẩm có ạ,” – “Thử hát một khúc ta nghe coi!” Quả thực chúng hát trôi chảy một đoạn nhỏ. Khúc trường thi đã từ lâu bị xé ra tơi tả thành từng đoạn nhỏ, và những đoạn hay nhất đã biến thành ca dao của biển cả. Dầu sao thì được nghe từng đoạn nhỏ của khúc trường thi xưa như vậy cũng là một niềm an ủi lớn lắm cho Chiếc Áo. Giờ đây Chiếc Áo trông già nua, còm cõi lắm rồi. Còn gì nữa. Bao nhiêu tâm lực đổ ra hết trong cuộc vùng dậy cuối cùng, rồi thất bại, rồi sống vật vờ giữa lũ cá trích, giữa đám rong biển luôn luôn đu đưa, nhiều khi xao động nếu trên mặt biển có gió lớn. Nay lũ cá trích đi. Chiếc Áo sống giữa lũ cá cơm hèn mọn thì từng sợi tơ dệt áo cơ hồ cũng mục ruỗng đến nơi mất rồi. Đã thế lũ cá cơm mới nở, chúng còn nhỏ quá, ngây thơ không biết gì, nhiều lần vô tình phạm tội bất kính, chúng kéo nhau lại xúm quanh chiếc áo rỉa lấy chút rêu, đến khi cha mẹ chúng la hét chúng trở lại, thì tơ áo đã bục thành vô số những vết lỗ chỗ nhỏ rồi. Nhưng không vì thế mà chiếc áo quên hô khẩu hiệu, ít ra là một lần một ngày, khẩu hiệu hứa hẹn một chiến thắng Hòn Hèo thứ hai. Điều đó đã thành một nếp suy tư cố định của chiếc áo cần thiết chẳng kém gì khí trời để thở. Thiếu ăn có thể dăm bữa nửa tháng mới chết, chứ thiếu khí trời chỉ năm phút là đi đời. Dù già nua, dù xác xơ thì chiếc áo cũng còn sống. Được cái lũ cá cơm con dễ bảo hơn cả lũ cá trích, hễ nghe hô khẩu hiệu thì chúng lập tức hô theo, bảo hát khúc trường thi, lập tức chúng nhớ đoạn nào hát ngay đoạn ấy, tâm hồn chúng đơn giản quá, chúng luôn luôn tiếp nhận và thực thi những mệnh lệnh từ ngoài đến, tựa như đó là khuynh hướng tự nhiên để đời này qua đời khác phong phú hóa dần kiếp sống của chủng loại chúng bằng những kinh sống đó. Nhưng tới một sớm kia, khi vừa sực thức dậy, thuận miệng cất lời hô một khẩu hiệu, chiếc áo chỉ nghe thấy lác đác có vài tiếng hô còm cõi đáp ứng. Chiếc Áo bèn nhỏm dậy nhìn quanh, cả đàn cá cơm biến đi đâu mất phần lớn, chỉ còn lại một số nhỏ vẻ khập khiễng hốt hoảng. Thì ra gần trọn đàn vừa bị sa vào một mẻ lưới. Dọc theo bờ biển vẫn có đôi vùng người dân chài Việt Nam ưa đánh cá cơm để về làm mắm.

Doãn Quốc Sỹ 

TRUYỆN CHIẾC ÁO DÀI CỦA BÀ MẸ VIỆT NAM - HỒI BỐN



HỒI BỐN
NỖI BI PHẪN, CỦA MỘT CHÍNH KHÁCH LƯU VONG . MỘT NGẪU NHIÊN DỊ KỲ CỦA LỊCH SỬ ĐÈ NẶNG LÊN CHIẾC ÁO DÀI XÁC XƠ.

Cùng dạo này lịch sử trên đất liền cũng nhiều bề bi đát lắm. Một cuộc đảo chính chẳng biết là lần thứ bao nhiêu vừa xảy ra. Lần này phe đảo chính thành công nhốt vị quốc trưởng bị truất quyền vào một tòa nhà kiên cố ngay sát bên trụ sở quốc hội. Vị quốc trưởng mới cùng bộ tham mưu của ông họp ngay trong phòng lớn trên lầu của trụ sở quốc hội, gian phòng này lại đối diện với gian phòng nhốt vị quốc trưởng thất thế, điều này càng làm vị quốc trưởng thất thế tức điên ruột. Ông có đứng dạng háng trước cửa sổ kính có chấn song sắt, chõ sang phía vị tân quốc trưởng cùng bộ tham mưu của ông ta mà vừa thóa mạ vừa thuyết lý. Tất nhiên là cách một lần kính pha lê dầy như vậy làm sao đối phương nghe được, nhưng con người thất thế cứ vừa hoa chân múa tay vừa nói cho hả.
Ông nói nhiều, nhiều lắm. Toàn là những điều mà khi còn tại vị ông mắc phải. Cũng có thể là vì trước đây lâm cục giả mê, nay ông ở thế cờ ngoài bài trong nên sáng suốt và ông thẳng thắn nói những điều mình nghĩ.
Cũng có thể là Sơn Tinh hay Thủy Tinh vốn không bao giờ can thiệp vào việc người, bởi các vị cho con người đã có trí thông minh thì đương nhiên họ có thể tự cứu, nhưng hôm nay nhân ngao du qua đấy, thấy cảnh trớ trêu, thì mở nắp tiềm thức cho nạn nhân nói lên những sự thật đơn giản mà đã từ lâu rồi ai cũng biết như vậy. Vị quốc trưởng thất thế la hét một hồi nghe có hơi mệt bèn ngừng lại. Ông hơi ngửa mặt nhìn vòm cây bên ngoài rậm như rừng. Ông nhìn xuống mặt một đại lộ cách đó không xa, những vệt sáng giao thoa của những chiếc xe hơi qua lại ngược chiều nhau vun vút. Ông cúi mặt trầm tư tưởng tượng ngày xa xưa khoảng này còn nguyên vẻ hoang vu của rừng cây có chồn có thỏ, có hươu nai, hổ báo. Vẻ thiên nhiên man rợ như vậy ông thấy còn đẹp hơn cả trăm ngàn lần cảnh văn minh giả trá bây giờ, đường nhựa phẳng, bóng xe cộ tấp nập, ánh điện sáng choang như ban ngày, nhưng con người thì rình rập lọc lừa nhau, bất nhân tàn ác vượt xa những loài cầm thú xưa, khi nơi này còn là khu rừng già nhiệt đới. Nghĩ tới đấy vị quốc trưởng thất thế ngửng nhìn sang phòng đối diện thấy vị tân quốc trưởng vẫn còn say mê bàn luận với ban tham mưu trước một bản đồ bỏ ngỏ, bất giác ông lại nổi xung và la hét lên rằng cai trị mà không biết dựa vào dân thì chẳng sao thoát cảnh làm chó săn chim mồi cho ngoại nhân. Nói chi đến chuyện bình đẳng với chúng, nói chi đến chuyện cứu nước thoát khỏi tay lũ quỷ đỏ…
Nhiều, ông nói nhiều nữa, đại khái toàn là những sự thực đơn giản như hai với hai là bốn, nhưng vì đã bị đánh đĩ nhiều nên khi âm thanh những lời đó vang lên chỉ làm người nghe buồn nôn lộn mửa, thuật giả đành tự ý lược đi.
Sớm hôm sau người ta đưa vị quốc trưởng thất thế lên chiếc trực thăng. Ông được cho hay chiếc trực thăng đặc biệt đó sẽ đưa ông ra một miền bờ biển, rồi từ miền bờ biển, vẫn chiếc trực thăng đó sẽ đưa ông ra một tuần dương hạm đậu ngay ngoài khơi. Ông sẽ ngụ tại tuần dương hạm chờ dịp thuận tiện lên bộ lưu vong tại một thành phố ngoại bang.
Lúc cánh quạt chiếc trực thăng đã quay tít, lòng quê bỗng vô cùng xúc động ông hét lên: “Đất! Đất mẹ! Hãy đưa cho tôi một bình đất mẹ!”
Một người lính cận vệ vội vã chạy tới góc tường xa, khệ nệ bưng tới một chiếc vỏ đạn đại bác lớn đựng đầy đất. Vị quốc trưởng thất thế ôm lấy chiếc vỏ đại bác đầy đất đó như ôm quê hương vào lòng. Và chiếc trực thăng cất bổng lên. Ông bồi hồi nhìn từng mảnh giang sơn lươn lướt bên dưới, tâm trí ông như mê mẩn.
Quả nhiên chiếc trực thăng tới một miền duyên hải thì hạ xuống. Điện đài liên lạc với tuần dương hạm ngoài khơi. Thời tiết không xấu. Thế là tức khắc chiếc trực thăng cất mình vù vù hướng ra khơi. Quay nhìn giải đất liền quê hương một lần nữa, nhà chính khách thất thế muốn khóc nức lên, hai tay ôm ghì chặt lại. Ông sực nhớ ra chiếc vỏ đạn đại bác đầy đất vẫn ôm kè kè bên mình, ông bèn vục một tay vào. Qua một tầng đất tơi phủ hờ bên trên, tay ông bỗng chạm phải một lần nhám ướt, đồng thời một mùi thối khẳn xông lên. Trời ơi, bên dưới là trấu trộn với phân lợn. Thì ra người lính cận vệ đã hấp tấp ôm lầm phải đồ bón cây hoa của người làm vườn trong dinh quốc trưởng. Ông giận dữ ném chiếc vỏ đạn nặng đó xuống biển. Màu đồng lấp lánh kẻ một đường nghiêng, và mặt biển tóe một khoảng trắng nhỏ như một đóa hồng bạch-từ cao ngó xuống.
Cuộc đời lưu vong của vị quốc trưởng thất thế đã đành là buồn thảm nhưng xin quí vị độc giả hãy trở về với chiếc áo dài của bà mẹ Việt Nam. Chiếc vỏ đạn đại bác tự trên chiếc trực thăng lao mình xuống mặt biển chẳng khác một trái bom vừa được phi công bấm nút thả xuống. Thật là một ngẫu nhiên dị kỳ của lịch sử chiếc vỏ đại bác khi mang sức nặng của mình chìm sâu xuống mặt biển, thì lại rơi đúng vào chiếc áo và kéo luôn cả chiếc áo ra khỏi đám rong lơ lửng mà cùng chìm xuống sát đáy biển. Vỏ đạn đại bác nằm chặn lấy thân sau chiếc áo, trong khi thân trước và cổ áo thì cố vươn lên những muốn đòi được trở về vị trí cũ lơ lửng với rong biển và đàn cá cơm ở trên. Chiếc áo vốn đã xác xơ, bệ rạc. Những khoảng trước đây đàn cá cơm nhỏ tới đớp rêu nay trở thành những vết lỗ chỗ lớn thực sự. Thêm một lần đàn cá tới kỳ đẻ trứng, trứng cá hàng triệu triệu đã phủ kín cả chiếc áo. Ngày cá nở một số trứng ung còn bám lại, rồi biến chất đi, thành vô vàn những điểm lấm tấm màu tím xỉn. Bây giờ lại thêm mùi hăng nồng thum thủm tự bên trong chiếc vỏ đạn tiết ra!
Tuy tình trạng chiếc áo ngày nay xác xơ bệ rạc là vậy, nhưng giấc mộng chiến thắng một trận Hòn Hèo thứ hai vẫn không phai mờ. Thỉnh thoảng Chiếc Áo vẫn hét lên: “Chúng ta hãy chiến thắng một trận Hòn Hèo thứ hai!” Lũ cá cơm lơ lửng bên trên nghe thấy vậy lập tức nhắc lại thành một lời đồng vọng tuy yếu ớt nhưng cũng làm nó ấm lòng phần nào.
Một ngày kia Chiếc Áo bừng thức giấc thấy tuy khoảng đáy biển mình nằm coi bộ vẫn yên, nhưng khoảng rong mênh mông bên trên bị xao động dữ. Quả thực trên mặt biển lúc đó sóng cồn lên thành núi. Bão biển theo như lời báo của thiên văn đài sẽ còn kéo dài suốt ngày hôm đó. Cả vùng rong biển đương bị di chuyển theo luồng sóng dữ. Đàn cá cơm thì vội vã bơi vào khoảng vịnh gần đấy để ẩn bên dưới những hốc đá ngầm. Điều này Chiếc Áo không biết.
Quen miệng như mọi khi Chiếc Áo hô lớn: “Chúng ta hãy chiến thắng một trận Hòn Hèo thứ hai!”

Tiếng hô vang lên cao một chút rồi lệch lạc đi với luồng sóng dữ. Không một tiếng vang đáp lại. Nghe cô đơn lạ lùng!

Doãn Quốc Sỹ 

CHUNG SỐNG HOÀ BÌNH

Ai bảo cãi nhau như chó với mèo ?  :)


Photo by Doãn Minh Thư 

ĐẾN VỚI DÂN TỘC VIỆT



Không có sự trưởng thành nào đáng kính bằng sự trưởng thành trong đau khổ. Đúng như lời cổ nhân thường nói “kẻ đau khổ là một sự thiêng liêng ở trên thế gian này”, dân tộc Việt phải là một sự thiêng liêng với nhân loại, vì thật hiếm có lịch sử dân tộc nào gian nan khổ ải hơn dân tộc Việt.

Tôi muốn nói với những người ngoại quốc như thế này: Các ông muốn đi tìm cái đẹp thương tâm và cao kỳ, cái đẹp đầy đủ nhất của con người toàn vẹn nhất trong một kiếp người phong ba nhất? Xin mời các ông đến với dân tộc Việt…

Doãn Quốc Sỹ