Jun 5, 2016
4. TÁM VỊ BỒ TÁT - VINH - Ngô Thùy
- Vinh đừng quyến rũ tía Dũng con!
Cứ mỗi lần gặp má con tôi là Vinh lại vừa nhéo gò má Tiny, vừa nhếch môi cười đểu nhắc lại câu đó. Đó chính là câu tôi dạy Tiny nói với Vinh sau bao nhiêu trận cờ thâu đêm suốt sáng mà bố Tiny và Vinh miệt mài vào hằng đêm. Anh chàng nghệ sĩ kiêm mỹ thuật gia này đã tận dụng câu tục ngữ “có tài có tật” để mà tha hồ đam mê.
Theo thứ tự “chị Thanh, chị Khánh, chị Liên, Thái, Vinh, Hưng, Hiển, Hương” thì Vinh chỉ đứng hàng thứ năm trong tám vị Bồ Tát, nhưng theo ngoại hình thì anh chàng dư sức làm anh của cả chị Thanh – nghĩa là anh cả trong nhà, nói cho nó gọn. Cao lớn, y phục lúc nào cũng phải “à-la-mô-de”, áo cài chừa hai khuy trên, trông Vinh giống như như một tài tử xi nê. Cũng khuôn mặt dài, đôi mắt to mí, dày, cái mũi thẳng, cằm vuông hơi lẹm, đúng khuôn của Hưng, nhưng ở Vinh, môi trên biến thành cách nhếch mép cười đểu cùng với giọng nói ngọt ngào du dương có cái kết hơi đưa đẩy làm Vinh rất đáng bị má Yên của Tí Ti và Tiny mắng là “Gã Don Juan”. (Má Yên là ai, chốc nữa sẽ rõ, và Vinh cũng đừng có hòng mà chối.)
Vinh là một nghệ sĩ thứ thiệt chứ không phải chơi. Trong hội họa, Vinh thiên về Ấn tượng – đường nét và màu sắc trong tranh Vinh thường đập mạnh vào mắt người xem, dù là đề tại dịu dàng hay “dữ dội”. Dịu dàng như bức tranh miêu tả một cánh chim trắng (Tôi tạm đặt là L’oiseau du Paradis), thì chung quanh vẫn là nền màu tím ngọc loang vào màu thạch lựu, màu xanh thẳm của biển sâu và mầu nâu dịu, nổi bật lên cánh chim trắng ngơ ngác, tinh khiết với viền nhữ kim long lanh như vầng hào quang tỏa ra chung quanh. “Dữ dội” như tranh diễn tả Hải sư Minh Yên bằng mực tàu, với những nét gẫy đậm nhạt, đôi tròng kính vừa nghiêm nghị vừa tinh quái, chiếc miệng mỏng có thể vừa hôn đó, lại vừa … cắn đó. Về âm nhạc, chính Vinh là người làm cho không khí văn nghệ trở nên nổi đình nổi đám với những bản nhạc vui tươi như “Ghen”, “Bốn Lời Cám Ơn” v.v.. Nhưng về sau từ khi xuất hiện con Hải sư trong đời, Vinh đâm ra “trầm” hẳn và bắt đầu viết nhạc tình. Điều bất ngờ là nhạc tình của Vinh lại rất … tình. Nét nhạc Vinh sáng, trang trọng, mượt mà. Vinh thường tự đệm lấy nhạc của mình và tự hát lấy bằng giọng hát trầm trầmm với cách phát âm “đểu đểu” y hệt như cái cười của mình. Tuy chỉ theo “Méthode de … hors”, nhưng nhìn Vinh ngồi vào đàn đố các em bé rô-man-ti-que biết nổi chàng Vinh vẫn còn bị chị Khánh mắng vì đàn sai. Cái vẻ tài tử lả lướt của Vinh, ngón đàn cũng đầy vẻ “đểu đểu” của Vinh là đủ làm cho các bé chết mê chết mệt đứt đi rồi. Đã có lần ở nhà bạn Vinh, ông củ thân sinh ra Vinh đã đinh ninh bản nhạc Vinh vừa sáng tác là của Phạm Duy. Tiếc rằng thời gian sau này có lẽ vì Vinh bận “hầu cờ” với “ông lão nhà tôi” nên không có sáng tác nào ra đời nữa.
(còn tiếp)
Ngô Thùy
4. TÁM VỊ BỒ TÁT - VINH - Ngô Thùy
Ngoài việc sáng tác, Vinh còn là nhà nghệ sĩ tạo hình (nói theo ngôn ngữ hiện đại đấy bạn ạ.) Trong các cuộc tiếp tân, vẻ ấm cúng hài hòa của phòng khách phần lớn nhờ tay Vinh. Vinh có những bố cục táo bạo, những đường nét mạnh mẽ. Vật liệu bài trí Vinh dùng thường mang tính chất bất ngờ. Có khi là một bình hoa làm bằng chiếc hộp sắt tây đựng bánh và một cái vè xe cũng được cắt ngắn sơn lên một lớp sơn mỏng. Một cái gùi tre gắn lên miếng ván ép cũng trở nên lộng lẫy khi được dùng cắm hoa. Tiếng lành đồn xa, anh chàng đã từng được mời đến décor cho các tư gia và cả một hội trường cho một nhà máy nọ. Đặc điểm của Vinh là trẻ trung, khỏe khoắn và gây ấn tượng mạnh (là tôi nói về cách bài trí của Vinh đấy nhé.) Đâu là một cái phông quan trọng cho mọi cuộc tiếp tân, bởi vì nếu thiếu cái không gian ấm cũng đẹp đẽ, bởi vì nếu ánh đèn vàng bị thay bắng ánh néon, bởi vì nếu căn phòng không được chủ ý bố cục lại, thì tất cả khách khứa sẽ cảm thấy ghế ngồi của mình lỏng chỏng, tay chân của mình thừa thãi, mặt mũi của mình trơ trẽn … dưới ánh sáng trắng bệch của néon, giữa gian phòng chỏng trơ vài cái ghế. Quan trọng hơn nữa là cái tài cắm hoa. Khám phá bất ngờ kia là “ông lão nhà tôi.” Toàn là phái yếu không hà. Nhìn bố cục chặt chẽ, tế nhị của những bình hoa, thật khó tin đó là do bàn tay của hai chàng đực rựa. Nhưng bố bé Tiny thì chỉ thỉnh thoảng mới được vợ cho tiền mua bông về cắm đỡ ghiền, lại thiếu dụng cụ cần thiết nên đành tạm gác “thiên tài” sang một bên. Còn lại Vinh được triển nở trong môi trường thích hợp, càng ngày càng cho thấy cá tính độc đáo trong kỹ thuật cắm hoa của mình. Chẳng mấy chốc tên học trò cắm hoa ngày nào đã trở thành ông thầy dạy cắm hoa thực thụ. “Học trò” toàn là quý bà quý cô lớn tuôi, đi xe cub đến học, làm má Yên mất công cũng phải ghi tên theo học luôn để giám sát viện cho nó chắc! Riêng tôi, cứ mỗi lần đến nhà, ít nhất tôi phải bỏ ra mười lăm phút để ngắm những binh hoa của Vinh. Vẫn là “án tượng”, những ấn tượng mát mắt lạ lùng. Những cành lys trắng như ngọc lưu ly nghiêng nghiêng nhìn bạn từ chiếc bình sơn mài đen muốt. Những chùm marguerte rực rỡ bên cạnh những tia hoàng diệp mạnh như nét kiếm. Hai bông hướng dương cười rạng rỡ trên khúc buche vân nâu bên cạnh những quả chanh cốm màu ngọc thạch. Những bông hồng xúm xít nhau như một bầy thiếu nữ đang chụm đầu cười khúc khích nổi bật trên cành khô khúc khuỷu. Trên cành cây già cỗi này Vinh cố ý gắn lên những cụm quả cerises chín cây căng mọng như sức sống nẩy mầm từ cái chết. Những chùm orchidée tím phớt trầm ngâm buông mình suy tư ở một góc tường. Dưới chụp đèn vàng nồn ấm, những bình hoa độc đáo ấy trở nên linh động, duyên dáng, mỗi bình là một sắc thái, như cũng những vị khách đang thì tầm trò chuyện với nhau một cách tế nhị.
(còn tiếp)
Ngô Thùy
4. TÁM VỊ BỒ TÁT - VINH - Ngô Thùy
Tới đây là lúc phải dừng những lời ca tụng lại để mà “mài dao cho sắc” cho má Yên xử tội Vinh. Cái anh chàng nghệ sĩ ướt át này là kẻ có tật cũng nhiều như có tài. Cô nàng Lion Minh Yên thoạt nhìn tưởng đâu thứ dữ, có ai ngờ vừa vào cuộc đã bị chàng Bélier Vinh hạ nốc ao một đòn tối hậu: đòn yêu. Minh Yên, một cô gái cũng đa tài không kém. Một mình Yên có thể cùng lúc nói chuyện với một ông Tây, một bà Mỹ, một dona và một fuhner. Cái dáng lừng khừng của Yên vô tình thành như cái mốt một dạo. Minh Yên ăn mặc mốt hơn cả … Tây, và mặc một cách thoải mái như một thôn nữ mặc áo bà ba vậy. Minh Yên còn có khiếu đóng kịch rất tỉnh, nhất là những vở kịch nói tiếng Tây. Cái tài bếp nước của Yên thì khỏi chê, bánh trái tiệc tùng đối với Yên là trò tiêu khiển. Lại còn may vá khéo ơi là khéo nữa chứ. Và cái tài chót là tài … khóc. Nhìn vẻ mặt “lạnh như tiền” của Yên, khó có ai ngờ là cô nàng lại quá nhiều nước mắt như vậy. Một con sư tử mà khóc hu hu, các bạn thử hình dung mà xem. “Vui” đáo để, vì thế mà Vinh cứ trêu cho Yên khóc hoài. Thoạt trông cặp Vinh-Yên ai cũng đinh ninh Yên là người lèo lái. Bởi vì Vinh ăn nói dịu dàng quá, nhỏ nhẹ quá! Còn Yên thì cứ hay cằm nhằn Vinh như một bà vợ chính hiệu (chứ nếu bà vợ mà không cằn nhằn là thấy thiếu thiếu mất một nửa đặc tính chung rồi). Nhưng cái người đầy vẻ chỉ huy kia thực ra lại chính là kẻ bị động! Trách Vinh ham chơi, đa tình, hay bỏ người yêu đi xoa mạt chược, hay dịu dàng với người mới quen mà cộc cằn với “dzợ nhà” … Nhưng những thói xấu đó vẫn không cấm Yên ngồi đợi Vinh suốt buổi trong lúc chàng ta đi xoa hoặc đi phiêu lưu đâu đó. Có lẽ Yên muốn ngồi đợi Vinh về để bắt quả tang chàng ta, cho Vinh “biết tay bà”, cho Vinh thấy là Yên biết hết, biết hết! Thế nhưng khi Vinh về, chỉ cần kẻ phạm tội qua quít vài câu nói dối, kèm theo nụ cười ngọt ơi à ngọt, là “bà” lại sẵn sàng tha thứ ngay sau khi cũng có lườm nguýt chút đỉnh. Ấy đấy! Đấy chính là lý do khiến người ta gọi chúng mình là phái yếu đấy Yên ạ. Mà nếu như có xung đột trầm trọng thì Yên cũng chỉ đến khóc sưng mắt và ốm một trận, rồi sau đó lại càng thương Vinh nhiều hơn trước. Vui thật!
(còn tiếp)
Ngô Thùy
4. TÁM VỊ BỒ TÁT - VINH - Ngô Thùy
Mà Vinh thì phải nhìn lâu lắm mới biết được Vinh không phải là người điềm tĩnh và nhẫn nại như biểu lộ ở bên ngoài. Một con người đam mê ngang ngửa với bố Tiny thì làm sao có thể điềm tĩnh và nhẫn nại được. Một ngày điển hình trong đời Vinh như sau: (trường hợp Vinh được tháo cũi sổ lòng, như khi Minh Yên đi Vũng Tàu với mẹ chẳng hạn) sáng đi uống cà phê, ngồi tán dóc, đi xoa đến trưa. Dừng lại ăn cơm vào xao tiếp đến tối mịt. Về đến nhà đang còn hốc hác bơ phờ, vừa nhìn thấy bố Tiny là mắt liền sáng lên, xới vộ dĩa cơm vác lên phòng khách, tất bật bày binh bố trận ra với nhau đến khuya, có khi đến tận sáng trắng, nếu được sự cho phép của tôi. Nhìn hai cặp mắt đờ ra, hai bộ mặt phờ phạc mà vừa ghét vừa tội nghiệp, lại vừa khó hiểu. Đôi khi tức quá, tôi tuyên bố: Nè anh! Tối nay anh ẵm con về dỗ ngủ. Em rủ chị Khánh, chị Liên, bé Hương ra binh xập xám và đánh cờ tướng đó nhá!
Nhưng nói vậy cũng tội nghiệp cho Vinh. Vì là người sức vóc nhất nhà nên Vinh thường nhận những nhiệm vụ nặng nề như lau nhà, bửa củi, khiêng bàn ghế. Nhìn cái dáng cao lêu nghêu của Vinh khòm lưng lau nhà thấy cũng tội nghiệp. Và những hôm được lời ủy thác của bác gái tôi, chàng ta lại xoay trần ra sân ngồi bửa củi. Không làm ngay để đó đi chơi về thấy bác đang ngồi chẻ thì nguy to! Những hôm tiệc tùng là Vinh phải kê bàn ghế, lau đàn, lau các bức tranh thật sạch, và cắm hoa. Cũng vất vả và cũng được việc lắm chứ. Lúc chị Khánh còn ở Vũng Tàu, hoặc lúc chỉ Liên ở cữ, thỉnh thoải tôi lại thấy anh chàng lúi húi làm cơm trong bết. Khẩu vị của Vinh cũng độc đáo lắm: cay, đậm, bùi, béo, giòn … đủ cả! Nhưng cũng chính vì vậy mà bác gái tôi ít khi dám cho Vinh làm bếp: hao quá! Mỡ, nước mắm, bột ngọt, hành tiêu tỏi ớt … là Vinh phải xài thả ga nó mới ngon!
(còn tiếp)
Ngô Thùy
4. TÁM VỊ BỒ TÁT - VINH - Ngô Thùy
Cũng lại nhờ cái vóc cao lớn mà Vinh thường hay được đại diện ra tiếp khách. Bởi vì cũng như tôi lần đầu tiên, quý quan khách cứ luôn luôn đinh ninh Vinh là anh Cả trong nhà. Và “anh Cả” luôn luôn làm tròn vai trò của mình một cách tốt đẹp: bặt thiệp, lễ độ, ngọt ngào. Trong việc học, Vinh cũng tỏ ra rất thông minh. Vốn liếng sinh ngữ ở Vinh cũng thuộc vào loại “cừ”. Vinh hấp thụ các kiến thức bách khoa rất mau chóng, đặc biệt về Thiền. Nhưng càng đặc biệt hơn là Vinh lại chẳng Thiền chút nào. Đang ngọt ngào đó rồi gặp chuyện gì trái ý là lập tức “rầm” cái tách trên bàn nảy tung lên. Đang cười nói với Minh Yên bỗng cô nàng càu nhàu gì đó, chàng Vinh liền đổ quạu nạt luôn, thế là kết thúc có hậu toàn nước mắt. Đôi khi bác gái tôi tức quá phải hét lên: “Thôi Yên đừng thèm chơi vơi nó nữa! Trông nó hư thế mai mốt rồi chỉ khổ Yên thôi!” Nhưng tôi, một cách khách quan, tôi đoán mò tâm trạng của Vinh và tiên tri: Ở tuổi Vinh (sắp sửa hai mươi lăm), lại có tài như Vinh, mà lại phải sống trong cảnh tù tùng mất tự do, không có việc làm, không có nơi thi thố khả năng của mình, phải ngập ngừng áy náy mỗi khi ngửa tay xin Mẹ từng mười đồng đi mua thuốc lá … thì với bấy nhiêu cái bất mãn bất túc ấy tích tụ lại, hỏi sao Vinh chẳng nóng nảy, cộc cằn. Những khi bác bực bội buông lơi chua chát nói: “Thế mà cũng đòi làm con Bố Mẹ!” Tôi vẫn muốn làm một lời tiên tri để trấn an bác, rằng Vinh sẽ rất khác đi khi môi trường sống thay đổi, cuộc đời mở rộng địa bàn cho Vinh vùng vẫy, thi thố tài sức cua mình và được bù đắp xứng đáng (chứ không phải bù lỗ). Tôi vẫn cho rằng ai lại không có lúc xa lìa bản ngã vì những nóng lạnh bên ngoài. Đã thừa hưởng được dòng máu nghệ sĩ của bác tôi, lẽ nào cái đức độ tu thân giản dị như vậy Vinh lại không đạt đến sao. Bây giờ chỉ cầu mong cho cái xứ sở này sớm được tiêu tai giải họa để những lớp người trẻ như chúng tôi còn có được chút đất đứng và trên đầu.
Ngô Thùy
LƯU HỮU PHƯỚC VÀ NHỮNG BẢN HÙNG CA CỦA CHUNG DÂN TỘC VIỆT NAM
Ngày 8 Tháng 6 năm nay đã là 27 năm ngày mất của cố nhạc sĩ Nguyễn Hữu Phước (8/6/1989). Ông là một trong những người nhạc sĩ đặc biệt của nền âm nhạc Việt Nam, khi mà nhiều sáng tác nổi tiếng của ông đều được sử dụng bởi cả hai chế độ Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Sản Bắc Việt.
Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sinh ngày 12/09/1921 tại Ô Môn, Cần Thơ. Cũng như nhiều thanh niên, trí thức Miền Nam cùng thời, ông đã tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp của toàn dân Việt Nam với một lòng yêu nước thuần túy, chưa bị nhuộm màu giai cấp, chủ nghĩa. Những sáng tác để đời của ông đều được thực hiện trong giai đoạn này. Có thể nói ông là một trong những nhạc sĩ có nhiều bản hùng ca, chính ca hay nhất, phổ biến nhất của nền tân nhạc Việt Nam.
Ca khúc nổi tiếng nhất của Lưu Hữu Phước chính là bài quốc ca Việt Nam Công Hòa-Tiếng Gọi Công Dân, mà cho đến nay người Việt hải ngoại vẫn sử dụng trong nghi thức chào quốc kỳ. Theo một số tư liệu, ca khúc này được sáng tác vào năm 1939, với tên gọi Sinh Viên Hành Khúc (La Marche des Étudiants), với lời Pháp của Lưu Hữu Phước và Mai Văn Bộ. Bài hát này sau đó đã được đổi tên gọi nhiều lần: Sinh Viên Hành Khúc, Tiếng Gọi Sinh Viên, Thanh Niên Hành Khúc, Tiếng Gọi Thanh Niên, Tiếng Gọi Công Dân… Lời tiếng Việt cũng có một số thay đổi cho phù hợp với mục đích của từng giai đoạn. Theo Tiến Sĩ Trần Quang Hải, lời tiếng Việt đầu tiên viết ở Sài Gòn với câu mở đầu : “Này anh em ơi ! Chúng ta kết đoàn hùng tráng. Đồng lòng cùng nhau, ta đi kiếm nguồn tươi sáng…“. Khi ra học ở Hà Nội, tác giả sửa chữa đôi chút với lời mới như sau : “Nào anh em ơi ! Tiến lên đến ngày giải phóng. Đồng lòng cùng nhau, ta đi sá gì thân sống… ” . Và khi được chọn là quốc ca Việt Nam Cộng Hòa, thì lời giống như ngày hôm nay:
Này công-dân ơi! Đứng lên đáp lời sông-núi!
Đồng lòng cùng đi, hy-sinh tiếc gì thân sống.
Vì tương-lai quốc-dân, cùng xông-pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền…
Đã có nhiều người thắc mắc rằng tại sao quốc ca của Miền Nam Việt Nam mà lại phải sử dụng một ca khúc của một nhạc sĩ tập kết ở Miền Bắc. Nên nhớ rằng quốc ca Việt Nam Cộng Hòa được lựa chọn qua một cuộc thi tuyển chọn quốc ca, với nhiều tác phẩm của các nhạc sĩ Miền Nam như Phạm Duy ( Chào Mừng Việt Nam), Hùng Lân (Việt Nam Minh Châu Trời Đông)… Có nhiều cách giải thích khác nhau về sự lựa chọn này. Nói chung, đây là một ca khúc xuất sắc; vào thời điểm được sáng tác tác giả một thanh niên yêu nước kháng Pháp cũng như hàng triệu thanh niên Việt Nam khác, chứ không phải của riêng đảng CSVN. Việc lựa chọn còn cho thấy Miền Nam không hề có định kiến hẹp hòi, vẫn sử dụng những tác phẩm tinh hoa của đất nước, cho dù tác giả vì hoàn cảnh phải ở lại Miền Bắc.
Một tác phẩm khác cũng nổi tiếng không kém của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, đó là bài Hồn Tử Sĩ, và cũng là tác phẩm được cả hai miền Nam-Bắc sử dụng đồng thời, một hiện tượng hiếm thấy đối một ca khúc Việt Nam. Bài hát này được sáng tác vào khoảng những năm 1942-1943, với tên gọi Hát Giang Trường Hận, với mục đích khơi dậy lòng yêu nước trong giới sinh viên qua việc nhớ lại sự hy sinh của Hai bà Trưng:
Đêm khuya âm u
Ai khóc than trong gió đàn
Sóng cuốn Trưng Nữ Vương
Gợi muôn ngàn bên nước tràn
Hồn ai đang thổn thức trên sông
Hồn quân Nam đang khóc non sông
Sát khí ngất đất bao lớp thây muôn bóng huyền
Không gian như lắng nghe bao oan hồn
Đang xao xuyến xót thương hai Nữ hoàng tuẫn thân…
Bài hát này được dùng trong các lễ tang theo nghi thức nhà nước của chế độ Miền Bắc, và Miền Nam trước 1975 sử dụng trong các nghi thức lễ tang quân đội. Hiện nay, tại hải ngoại vẫn sử dụng trích đoạn giai điệu của ca khúc này cho nghi thức phút mặc niệm dành cho những chiến sĩ đã bỏ mình vì tổ quốc, những đồng bào đã hy sinh trên con đường tìm lý tưởng tự do. Một lần nữa, một sáng tác tinh hoa của dân tộc vẫn được Người Việt Tự Do trân trọng, bất kể những thay đổi trong hoàn cảnh sống của tác giả.
Nhìn theo hướng ngược lại, chúng ta có thể thấy một số ca khúc lịch sử, yêu nước hùng tráng của Lưu Hữu Phước lại không được phổ biến rộng rãi trong một nước Việt Nam dưới sự cai trị của chế độ cộng sản. Trong đó phải kể đến hai ca khúc Bạch Đằng Giang, và Hội Nghị Diên Hồng. Ở trong Miền Nam trước 1975, hầu như các em học sinh ở độ tuổi tiểu học là đã thuộc lòng bài hát Bạch Đằng Giang:
Đây Bạch Đằng Giang sông hùng dũng
của nòi giốngTiên Rồng
giống anh hùng giống Lạc Hồng Nam Bắc Trung…
Và tương tự với bài hát Hội Nghị Diên Hồng. Đặc biệt, nhạc kịch dựa trên bài hát này thường xuyên được dàn dựng trên các sân khấu học sinh, từ tiểu học đến trung học:
Toàn dân! Nghe chăng? Sơn hà nguy biến!
Hận thù đằng đằng! Biên thùy rung chuyển
Tuông giày non sông rền vang tiếng vó câu
Gây oán nghìn thu
Toàn dân Tiên Long! Sơn hà nguy biến!
Hận thù đằng đằng! Nên hòa hay chiến?
Diên Hồng tâu lên cùng Minh đế báo ân
Hỡi đâu tứ dân! …
Và nay, ở hải ngoại, các liên đoàn hướng đạo, nhiều trung tâm Việt ngữ đều dạy cho các em thiếu niên Việt Nam hai bài hát hùng sử ca này. Có thể khẳng định, ở trong nước dù không bị cấm, như Bạch Đằng Giang và Hội Nghị Diên Hồng không thể có được mức độ phổ biến rộng rãi như ở Miền Nam trước 1975, và ở tại hải ngoại ngày nay. Lý do thật dễ hiểu, những bài hát kêu gọi lòng yêu nước, chống giặc Tàu phương Bắc kiểu này thì không có lợi cho chính quyền CSVN chút nào, đặc biệt là trong giai đoạn tổ quốc đang lâm nguy với hiểm họa Trung Cộng như hiện nay.
Nhắc lại như vậy, để thấy Lưu Hữu Phước và những ca khúc ca ngợi lòng yêu nước, kêu gọi tinh thần quật cường của dân tộc Việt Nam của ông vẫn có chỗ đứng vững chắc trong lòng những Người Việt Tự Do, cho dù còn ở Việt Nam, hay ở bất cứ nơi đâu trên thế giới…
Cung Mi / SBTN
Jun 3, 2016
VUI NHẬN KHÔNG THAN OÁN
Cây nhà Hưng Hòa đang vui nhận, không than oán?
Trích "Trung Bộ Kinh" - bài thứ hai:
[...]
Có bảy cách trừ mê:
Tri kiến và phòng hộ
Thọ dụng và kham nhẫn
Tránh né và trừ diệt
Giác chi là thứ bảy
Ðoạn trừ bằng kham nhẫn:
Những thống khổ khốc liệt
Do người, vật gây nên
Vui nhận không than oán.
[...]
ps: Ðoạn trừ bằng kham nhẫn là hoan hỷ chịu đựng những cảm giác khó chịu về thân tâm.
Subscribe to:
Posts (Atom)




