
Phở di cư vào Nam trong phong trào 54 cùng với các món lạ khác của người Bắc. Trước tiên là tiết canh, sau đó là phở. Nổi tiếng ở gần khu nhà tôi nhất là phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ.
Ba tôi là người sành ăn, thích thử món lạ. Buổi sáng ba đi làm sớm hay ghé “thử” món phở, đôi khi tôi được đi theo. Hồi đó tôi chưa có những nhận định như bây giờ, chỉ biết thay vì hủ tiếu thì đây là phở. Hủ tiếu thì ngoài bánh phở còn có tôm thịt; phở thì có thịt bò. Hồi đó phở Tàu Bay không hề có một cọng rau nào, chỉ có ớt, chanh và tương xay. Đi ăn phở tôi làm quen được vài từ ngữ mới: “vè, gân, sách, tái, sụn …” và loại “tô xe lửa” (tô lớn nhất) được phổ biến từ thập niên 60.
Thưở ấy ít nhà biết nấu cái món lạ này. Một vài gia đình người Bắc có tiết lộ với hàng xóm mỗi một món gia vị của phở là hồi (anis). Và cứ thế mà phở lan tràn đến năm 73, 74 thì trên đường đi Thủ Đức, Biên Hòa đều có tiệm phở dành cho những người đi làm ở vùng phụ cận. Những tiệm này phát triển rất nhanh vì kinh nghiệm cho biết nếu buổi sáng đi làm xa mà có tô phở nóng thì đường xa sẽ ấm vô cùng. Phở là điều kiện để ta chịu đựng tốt hơn.
Tôi có người cháu ở Santa Monica làm giàu nhờ nghề bán phở, vừa rồi chuyển sang Arkansas và định mở cửa hàng phở thứ hai ở đó. Mùi vị phở loại này được người Việt dễ tính coi là “tạm”, người Việt ở châu Âu (điển hình là em tôi từ Đức qua chơi) coi là “ăn được”. Nhiều người Việt miền Nam rồi cũng đâm ghiền phở như họ đã từng ghiền hủ tiếu, ăn ngày ba lần vẫn được. Ghiền nhất là mùi hổi, mùi gừng và mùi hành. Với kinh nghiệm đứng bếp của tôi thì làm nên phở vẫn là ba gia vị này. Còn miếng thịt ở Mỹ thì vừa miệng hơn vì ăn không “ngại” lắm.
giá, thích nhì phở 24 Saigon tương tự như phở ở Mỹ.Vài giòng về món phở của “đạo hữu” Hưng.
















