Apr 12, 2011

CHƯƠNG TRÌNH VIỆT NGỮ CẢI TIẾN CỦA VIỆN VIỆT-HỌC: NHỮNG NỖ LỰC TẠO THÊM SỨC SỐNG CHO TIẾNG VIỆT Ở HẢI NGOẠI












Lớp học dạy chương trình Việt Ngữ Thí Điểm của Viện Việt Học



“Hoa Kỳ” hay “Hoa Kì”? “Mì ly” hay “mì li”? “Của” hay “Cuả” ?
Ai là người thay đổi cách viết tiếng Việt theo kiểu này? Tại sao phải thay đổi?
Trên đây là một số câu hỏi đã được nhiều người đặt ra cho chương trình cải tiến cách dạy và học tiếng Việt của Viện Việt-Học, bắt đầu được ưu tư đã hơn 10 năm nay, mà nền tảng dẫn đến sự đúc kết của Viện Việt-Học cho phương pháp này đã được nghiên cứu độc lập bởi một số giáo sư, học giả từ rất nhiều thập niên trước.

Thường thì bất cứ cách làm mới nào thì cũng có kẻ bênh, người chống. Đó là lẽ thường tình, đặc biệt là khi chúng ta sống ở trên nước Mỹ tự do, chúng ta là người Việt ở Little Saigon, thủ đô của Người Việt Tự Do.

Để giúp cho độc giả có thêm thông tin về công việc đầy tâm huyết này, Anh Nguyễn Minh Lân, Tổng Thư Ký của Viện Việt-Học, đã có một cuộc trao đổi với Việt Báo về những nét cơ bản nhất của chương trình cải cách việc dạy đọc và viết tiếng Việt tại hải ngoại.

Anh Lân kể lại nguyên nhân khiến bản thân anh rất tâm đắc với việc cải cách chữ Quốc Ngữ. Từ đầu thập niên 80, khi anh và gia đình mới định cư ở Mỹ, anh đã tự dạy tiếng Việt cho con của mình. Rồi có một lần, con anh hỏi: “Ba ơi, tại sao mình viết là “mì ly” chứ không phải là “mì li”? Tại sao là Hoa Kỳ chứ không phải là Hoa Kì?”. Lúc đó, anh không thể trả lời được. Mà muốn thuyết phục con trẻ học tiếng Việt ở Mỹ thì cần giải thích cho chúng hợp lý. Kể từ đó, anh nghĩ rằng phương pháp dạy tiếng Việt tại hải ngoại không còn là vấn đề của một cá nhân nữa, mà là của chung cuả cộng đồng chúng ta.

Vào năm 2000, Viện Việt-Học được thành lập. Giáo Sư Nguyễn Đình Hòa, Viện Trưởng đầu tiên của Viện Việt-Học (Nguyên Khoa Trưởng của Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, từng phụ trách giảng khoa về Kế Hoạch Hoá Ngôn Ngữ - Language Planning, trong nhiều thập niên, chủ trương cải tiến cách đọc và viết chữ Việt, trong đó có đề nghị thay “i” ngắn bằng “y” dài), đã bắt đầu thực hiện việc nghiên cứu cải cách phương pháp dạy đọc và dạy viết tiếng Việt tại hải ngoại. Mục đích chính là làm cho cách đọc và viết tiếng Việt trở nên khoa học, có hệ thống hơn theo âm vị học, để việc giảng dạy tiếng Việt cho thế hệ trẻ lớn lên ở hải ngoại dễ dàng hơn. Kể từ đó công trình này là một chặn đường dài, với sự đóng góp của nhiều trái tim và khối óc của những giáo sư, những nhà chuyên môn trong bộ môn ngữ lí học. Vào năm 2005, Viện Việt Học đã tổ chức Hội Nghị Về Chữ Nôm, có một phần nội dung là nhìn về cách phát âm tiếng Việt qua ký hiệu chữ Nôm. Vào năm 2007, Viện lại tổ chức Hội Nghị Quốc Tế về tiếng Việt, qui tụ những nhà chuyên môn về ngôn ngữ Việt trên toàn thế giới, cùng thảo luận về lịch sử và phương pháp giảng dạy tiếng Việt. Tổng hợp nhiều ý kiến trong hội nghị này, vào năm 2008, Viện Việt Học đã bắt đầu dạy chương trình Việt Ngữ Thí Điểm, thử nghiệm phương pháp dạy đọc và viết tiếng Việt theo hướng cải tiến. Chương trình này vẫn còn tiếp tục đến ngày hôm nay.

Trong phạm vi một bài báo, sẽ rất khó để trình bày đầy đủ công trình nghiên cứu cải tiến chữ Quốc Ngữ. Anh Lân đưa ra một số khái niệm cơ bản nhất. Về lịch sử, việc dạy chữ Quốc Ngữ trải qua 3 thời kỳ:
- Thời kỳ I, kéo dài đến năm 1939: tiếng Việt viết theo abc (gọi là “chữ quốc ngữ”) được dạy theo cách đánh vần cổ điển ở các trường gọi là Pháp-Việt.
- Thời kỳ II, từ năm 1939 đến khoảng 1950: Hội Truyền Bá Quốc Ngữ được thành lập để dạy chữ quốc ngữ cho các trẻ em thất học và những người lớn tuổi mù chữ, nhà nghèo. Các học giả Trần Văn Giáp, Hoàng Xuân Hãn, Vũ Huy Trác soạn sách Vần Quốc-Ngữ dạy theo phương pháp mới. Theo đó, mẫu tự được đánh vần theo âm Việt: bờ, cờ, dờ… thay vì bê, xê, dê… như trước, đơn giản hơn xưa.
- Thời kỳ III, từ năm 1950 đến 1975: qua các công trình của nhiều học giả, giáo sư như Nguyễn Bạt Tụy, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Hiến Lê, Lê Văn Lý... và ngay cả các nhà ngữ học Miền Bắc, sự khảo cứu Việt ngữ đã có nhiều tiến bộ tích luỹ lại dần.

Việc cải tiến tiếng Việt của Viện Việt-Học rút tỉa tinh hoa từ các công trình này, kết hợp với công trình nghiên cứu riêng của nhiều học giả, trong đó có một số Giáo Sư thuộc Viện Việt-Học như Giáo sư Nguyễn Đình Hòa, Trần Ngọc Ninh, Phạm Văn Hải, Đàm Trung Pháp, Đỗ Đình Tuân…
Một cách khái quát, việc cải tiến mà Viện Việt-Học đề nghị và chủ trương hoàn toàn dưạ vào các công trình khảo cứu tự do cuả các học giả Việt Nam lấy căn bản thuần tuý là âm vị học Việt Nam, nằm ở một số những điểm chính sau:

1- Quan niệm mỗi chữ đôi Ch, Th, Tr, Ng, Ngh, Nh, Gh, Gi là 1 phụ âm, chứ không gọi là phụ âm kép.

2- Quan niệm chữ “i” là nguyên âm, còn “y” là bán nguyên âm. Đó là lý do bỏ những cách viết vô lí nhu Ý-đại-lợi, Y-pha-nho, Mỹ, y sĩ (nhưng kẻ sĩ) và viết nước “Mĩ”, “Hoa Kì”, quốc kì. Phân biệt nguyên âm (vowel) và bán âm (semi-vowel), như âm i có hai thể, một là nguyên âm như li kì, hi vọng, hai là bán âm như ai, hai, ngói và yêu, liều, lia liạ, điù hiu. Sự phân biệt này có tình cách khoa học vì cách phát âm có khác nhau và máy thu thanh cho thấy sóng rung động khác nhau. Dễ thấy nhất là khi âm i ở những vần thông (vân xuôi) chỉ có một chữ i như nước Í, nước Mĩ, Cao li, Bắc Kì, Nam Kì, Hoa Kì, Thổ Nhĩ Kì thì là nguyên âm mà ta có thể kéo dài cho đến ngưng luồng hơi. Sự cải tiến là trong trường hợp này, nguyên âm i thì viết là i, không viết Ý đại lợi nưã mà viết Í đại lợi, vân vân. Mì li, quốc kì, lông mi, kì dị, vị kỉ, thi ca, thí dụ, phi lí chứ không mì ly, quốc kỳ, kỳ dị, vị kỷ, thy ca, thý dụ, phi lý, vân vân.

3- Bỏ dấu theo âm vị học: Bỏ dấu dựa trên nguyên âm chính của một chữ, thí dụ: “lưả” (lư-ả), chứ không phải “lửa” (lử-a) là cách bỏ dấu theo thẩm mỹ đối xứng.

4- Chia vần theo vần thông - không có mẫu tự tận cùng nào để ngăn cản sự thoát âm của nguyên âm cuối trong chữ, (thí dụ “ta”, “cha”, tổ…) và vần chặn (thí dụ “mát”, “nhanh”, “ngon”…)
Anh Lân nhấn mạnh mục đích chính của những cải tiến này là để khoa học hóa cách phát âm, đọc, viết tiếng Việt, từ đó tạo điều kiện cho việc dạy tiếng Việt của chúng ta tại hải ngoại trở nên dễ dàng hơn và không mâu thuẫn (đi ngược) với sự học Anh văn, Pháp văn... kể cả chính tả Việt ở trong nước. Điều này đặc biệt cần thiết cho thế hệ trẻ lớn lên ở Âu Mỹ, đòi hỏi sự hợp lý. Khi phải học điều gì trái nghịch với sự hiểu biết khoa học đương thời, trái với điều các em được học ở nhà trường, chúng sẽ phản ứng chống lại ngay. Cách viết “kì dị” thay cho “kỳ dị” là một thí dụ rõ ràng nhất. Rõ ràng là nếu chỉ nghe đọc và ghi lại, thì “kì dị” mới là cách viết logic hơn. Sự viết theo đúng ngữ âm này không ảnh hưởng đến các viết tên họ riêng (như Uyên Thy, Vy Vy Trần, Ly Ly ...) và cũng chưa triệt để vì chỉ mới nêu ra một hai điểm phi lý nhất mà thôi.

Cũng có một số ý kiến cho rằng hơn 80 triệu người Việt trong nước đang học tiếng Việt hiện hành không cải tiến mà đâu có sao? Đó là vì trẻ em ở Việt Nam học tiếng Việt từ lúc còn rất nhỏ ngay trong gia đình, học một cách tự nhiên, không cần lý luận, học theo kiểu mưa lâu sẽ thấm đất. Tương tự, những người Việt hải ngoại thuộc thế hệ lớn lên trong nước, vẫn đang viết tiếng Việt theo số đông, cũng không có vấn đề. Anh Lân nhắc lại việc cải tiến chữ Quốc Ngữ không nhắm vào những người này. Nếu tiếng Việt chỉ dành cho thế hệ của anh, thì có lẽ chẳng ai cần bận tâm đến chuyện cải tiến. Đằng này, hoài bão của rất nhiều người trong chúng ta là duy trì tiếng Việt ở hải ngoại cho thế hệ con em sinh ra và lớn lên ở đất khách quê người. Các em học tiếng Việt trong khi đã nhập tâm tiếng Anh như là ngôn ngữ chính. Việc dạy và học tiếng Việt càng khoa học, càng hợp lý, thì việc khuyến khích thế hệ trẻ học tiếng Việt càng dễ dàng hơn.

Một ngộ nhận cần phải đính chính là cách viết theo kiểu cải tiến này không phải xuất phát từ Việt Cộng như nhiều người hiểu lầm. Thực ra, cách dùng chữ i chứ không phải là chữ y đã có từ rất lâu trong lịch sử chữ Quốc Ngữ. Nam Phong Tạp Chí viết “Mĩ Châu” chứ không phải “Mỹ Châu”. Cụ Hoàng Xuân Hãn viết “ác quỉ” chứ không phải là “ác quỷ”. Bìa sách 1879: “Sáu Tỉnh Nam Kì Tuế thứ Kỉ Mão”… Còn nhiều thí dụ tương tự như vậy chứng tỏ rằng cách viết này đã có từ đầu thế kỷ trước. Tuy nhiên không phải là ta tồn cổ khi xét lại cách viết, mà là tiến vào tương lai, vì tương lai là khoa học, là hợp lý.











Sách Dạy Tiếng Việt cải tiến của Giáo Sư Trần Ngọc Ninh


Mà có thực sự là sự cải tiến đem lại sự dễ dàng cho việc dạy và học tiếng VIệt không? Anh Lân cho biết kết quả của chương trình Việt Ngữ Thí Điểm đã và đang thực hiện tại Viện Việt-Học trong 3 năm qua rất đáng khích lệ. Các em đang theo học- cho dù ở trình độ vỡ lòng- có những tiến bộ nhanh và rõ rệt. Các em ít bị lẫn lộn trong cách đọc và viết tiếng Việt hơn. Một phụ huynh có con 6 tuổi, đi học chương trình mới có 6 tuần, kể rằng chính mình cũng ngạc nhiên trước kết quả học tiếng Việt của cháu. Một hôm gia đình đi ăn chung ở nhà hàng, cháu cầm menu đọc, tuy lơ lớ nhưng đúng đến 80%, khiến ai cũng vui mừng và phục lăn! Sự học đọc học viết theo âm vị học (nghiã là theo khoa học ngôn ngữ) tất nhiên có nhiều tiến bộ khác nữa chứ không phải chỉ có chuyện y dài i ngắn.

Một câu hỏi được đặt ra nữa là những cải tiến như vậy của Viện Việt-Học đã là hoàn hảo chưa? Sứ mệnh nuôi dưỡng và duy trì tiếng Việt ở hải ngoại không phải là công việc của riêng một cá nhân, một tổ chức nào. Viện Việt-Học chỉ là một trong những đơn vị đi tiên phong trong công việc này, và công trình của Viện được thực hiện bởi nhiều nhà chuyên môn trong lĩnh vực ngôn ngữ. Viện Việt-Học cũng đã thực hiện công việc một cách cẩn trọng, đi từng bước thí điểm, đo lường kết quả của việc cải tiến. Do vậy, Viện Việt-Học luôn luôn sẵn sàng đón nhận việc đóng góp ý kiến của tất cả những cá nhân trong cộng đồng có quan tâm đến sứ mệnh bảo tồn làm giàu làm đẹp tiếng Việt. Ước mong cuả người viết bài báo này là được thấy tất cả các người Việt Nam cũng lưu tâm đến công việc và sự nghiệp này.

Sự thay đổi và cải cách bao giờ cũng gặp khó khăn. Thước đo thành công của sự cải cách chính là việc nó có được áp dụng rộng rãi vào thực tế hay không. Công trình cải cách chữ Quốc Ngữ của Viện Việt-Học cũng thế. Sẽ cần thêm thời gian để xem phương pháp mới này có được sự hưởng ứng như thế nào. Nếu những lợi ích mà nó đem lại cho việc dạy và học tiếng Việt là to lớn, việc chấp nhận sẽ xảy ra trong một tương lai gần. Nhưng ngay trong hiện tại, chúng ta vẫn có thể thấy rõ tấm lòng của những người đã bỏ tâm huyết vào công việc đầy ý nghiã này, những người đã lấy câu “Tiếng Việt Còn, Văn Hóa Việt Nam Còn” làm phương châm trong công việc. Từ đó, chúng ta sẽ nhìn sự khác biệt của Tiếng Việt cải tiến một cách đồng cảm hơn.

Đoàn Hưng

Chương trình “Vui Học Lịch Sử, Văn Hóa Việt”



Chương trình “Vui Học Lịch Sử, Văn Hóa Việt”

Phỏng vấn Giáo sư Doãn Kim Khánh

Thanh Phong/Viễn Đông (thực hiện)

co-Doan-Kim-Khanh.jpg

Giáo sư Doãn Kim Khánh trả lời phỏng vấn của phóng viên tại Thư viện nhật báo Viễn Đông - ảnh: Thanh Phong/Viễn Đông.


WESTMINSTER - Vào ngày thứ Bảy, 15-1 sắp tới, Viện Việt Học sẽ tổ chức một buổi Workshop về đề tài “Lịch Sử Dựng Nước”, do diễn giả Giáo sư Doãn Kim Khánh, ái nữ của nhà văn Doãn Quốc Sĩ trình bày. Đây là một chương trình mới của Viện Việt Học. Riêng nhà giáo Doãn Kim Khánh đã bỏ ra nhiều thì giờ nghiên cứu và qua kinh nghiệm giảng dạy các sinh viên tại Orange Coast College, cùng với hoài bão của mình muốn truyền đạt kiến thức lịch sử, văn hóa Việt cho thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên tại Mỹ, chiều thứ Hai 10-1-2011, Giáo sư Doãn Kim Khánh cùng đi với Thầy Nguyễn Minh Lân (Viện Việt Học) đến thăm tòa soạn báo Viễn Đông và dành cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn.

Viễn Đông:
Xin giáo sư tóm tắt về chương trình sắp thuyết trình tại Viện Việt Học?
GS. Doãn Kim Khánh: Như anh biết, cái tên chương trình đã nói lên nhiều thứ rồi và tôi gọi đó là chương trình “Vui học lịch sử và văn hóa Việt”. Nội dung chúng tôi muốn truyền đạt là lịch sử và văn hóa. Thật ra hai vấn đề đó cũng chẳng có gì mới lạ. Từ bao nhiêu đời nay, mình vẫn quan tâm đến lịch sử và văn hóa, nhưng thực sự chúng tôi ở Viện Việt Học rất tâm huyết với chương trình mới này, bởi vì chúng tôi thấy rằng mình đang ở trong hoàn cảnh đặc biệt, hoàn cảnh xa xứ của mình nó làm cho cái chuyện mà chúng tôi cố gắng truyền bá lịch sử và văn hóa của mình trở thành quan trọng hơn là bình thường. Trong hoàn cảnh xa xứ này, chúng tôi thấy có hai nhiệm vụ mà mình phải để tâm trong đầu, thứ nhất là phải bảo tồn được hương hoa của tiền nhân để lại cho các cộng đồng sống xa xứ và đồng thời cũng phải lo hòa nhập với nền văn minh đang nuôi dưỡng mình. Nghe thì cũng hợp lý, hợp tình, nhưng thực sự rất khó. Một đằng mình muốn giữ lại cái cũ, cái của mình từ xưa đến nay, và đằng khác, mình phải hòa nhập với xã hội mình đang sống, nếu mình muốn sống cho cân bằng, thì phải làm thế nào đương đầu với sự hội nhập của hai nền văn hóa.

Viễn Đông: Đối với thế hệ người Việt đang sống tại hải ngoại, đối tượng nào làm cho giáo sư quan tâm nhất về vấn đề bảo tồn hương hoa của tiền nhân?
GS. Doãn Kim Khánh: Từ khi có cuộc di tản năm 1975, ở ngoại quốc ai cũng lo chuyện bảo tồn, chuyện hòa nhập hết, nhưng mỗi thế hệ có một vấn đề khác, một hiệu quả khác. Thí dụ như thế hệ mới đến, thì bảo tồn giỏi nhưng không hòa nhập được; thế hệ một rưỡi, thì cũng giải quyết được vấn đề hòa nhập, nhưng bảo tồn lỏng lẻo hơn, và bây giờ mình lo lắng nhất là thế hệ kế tiếp, thế hệ của các em sinh ra và lớn lên tại nước Mỹ, chỉ còn lại một chút lỏng lẻo gắn với đất nước là thế hệ ông bà, cha mẹ nhưng đều lớn tuổi. Cho nên thực sự Viện Việt Học và chúng tôi hết sức quan tâm, làm thế nào để các em biết mình là ai, các em giữ được cái hương hoa của đất nước. Mình đến đây mình học được nhiều thứ, nhưng cũng cần giữ lại nhiều thứ nữa; nhưng bất cứ nền văn minh nào cũng có cái thích hợp và cái không thích hợp. Nếu mình không giữ lại cái gốc, thì các em sẽ vất vả khi ở cái xứ mà các em không còn nhớ gốc gác của mình. Nhưng bảo mình là người Mỹ, các em cũng đâu có được coi là người Mỹ đâu; cho nên chúng tôi thấy chuyện đó là chuyện cần thiết, làm chúng tôi trăn trở và chúng tôi phải gấp rút, đem hết tâm huyết ra để thực hiện.

Viễn Đông: Xin giáo sư cho biết, chương trình được bắt đầu nghiên cứu từ bao giờ và gồm những ai trong Nhóm soạn thảo?
GS. Doãn Kim Khánh: Sau khi đặt chân đến Hoa Kỳ cách đây hơn hai năm, tôi đi dạy tại OCC và đã để thời gian nghiên cứu chương trình này, sau đó được sự hợp tác tích cực của những người có cùng tâm huyết như anh Nguyễn Minh Lân, cô Kim Ngân và cô Thụy Minh Hồng (Viện Việt Học) và đến hôm nay coi như đã xong một giai đoạn và chúng tôi quyết tâm “lăn bánh” để thực hiện.

Viễn Đông: Với chủ trương “Vui học lịch sử, văn hóa Việt” xin giáo sư nói rõ hơn về kế hoạch “Vui” như thế nào?
GS. Doãn Kim Khánh: Chuyện Vui là chuyện quan trọng, tại vì tôi đã từng nghe nhiều phụ huynh kể lại là khi bắt các em đi học tiếng Việt, các em lê những bước chân đó như là mang xiềng xích vậy. Trước khi qua đây tôi đã biết chuyện đó và khi qua đây thấy cũng hơi vui, vì thấy chuyện dạy tiếng Việt nó tiến bộ nhiều so với ngày xưa. Bây giờ mình đưa vấn đề dạy lịch sử, văn hóa Việt ra, mình làm sao tránh cho các em coi như chuyện nặng nề đi cày, đi bừa, cho nên làm sao cho các em Vui thì chuyện học lịch sử hay văn hóa Việt nó nhẹ nhàng ngay. Mục tiêu vẫn là nghiêm chỉnh, nhưng chúng tôi muốn đưa ra một phương pháp vui, để cho nó vui thì trước hết phải để cho nó dễ đã. Cho nên tôi chủ trương xài hai thứ tiếng, chứ không bắt các em vừa nặn óc tiếng Việt, vừa thu thập kiến thức, nên đầu tiên làm cho nó dễ để nó vui là dùng hai ngôn ngữ. Thứ nhì là chúng tôi không có chủ trương Thầy cứ nói rồi ở dưới học trò ngồi nghe, thành ra không gọi đó là lớp học, mà gọi đó là Workshop. Tùy theo trình độ các em, mà chúng tôi điều chỉnh nội dung để làm sao không quá đáng, không cố tình nhồi nhét kiến thức cho các em, mà chúng tôi áp dụng rất chừng mực, vừa phải đối với từng lứa tuổi, để các em nhận biết mình là ai. Do đó chúng tôi sẽ tìm mọi cách để các em góp phần vào bài học, không để cho thầy độc diễn.

Viễn Đông: Xin giáo sư cho một thí dụ?
GS. Doãn Kim Khánh: Thí dụ học về lịch sử dựng nước thì có rất nhiều những huyền thoại. Phần Thầy, chúng tôi sẽ đưa ra những kiến thức căn bản, thí dụ như khi kể chuyện bà Âu Cơ và Lạc Long Quân, Con Rồng, Cháu Tiên, thì chúng tôi cho các em tưởng tượng mình là một số trong 100 người con của bà Âu Cơ và ông Lạc Long Quân, thì các em nghĩ là các em sẽ theo ai. Lúc đó mình cho một em đóng vai Lạc Long Quân, một em đóng vai bà Âu Cơ, rồi các em chọn. Sau khi đã có hai nhóm, một theo Lạc Long Quân xuống vùng đồng bằng, một nhóm theo bà Âu Cơ lên núi; tôi sẽ cho các em xem hình những đồng bào sống trên miền núi và xem những sinh hoạt của các người ở vùng đồng bằng; sau đó tôi mới cho các em ở vùng đồng bằng chọn ra em nào lớn tuổi nhất, và em đó sẽ là vua đầu tiên của nước Việt, gọi là Vua Hùng Vương, thì đó là cách dẫn nhập các em vào các triều đại đầu tiên là triều đại Hồng Bàng.

Viễn Đông:
Khi dạy các em về lịch sử, Nhóm chủ trương vừa đưa ra huyền thoại bà Âu Cơ và Lạc Long Quân; mà đã gọi là huyền thoại, tất nhiên là không có thật. Vậy quý vị nghĩ thế nào khi dạy cho các em điều không có thật trong lịch sử và văn hóa Việt?
GS. Doãn Kim Khánh: Tôi đồng ý, huyền thoại chắc chắn là không có thật, nên đối với các em thật nhỏ chúng sẽ vui, chúng không trăn trở về chuyện đó, nên mình kể cho các em nghe như kể chuyện cổ tích, và mình cũng nói cho các em nghe đây chỉ có tính cách tượng trưng thôi. Câu hỏi của anh đưa ra tôi rất là quan tâm. Khi tôi đưa vấn đề này vào chương trình dạy tại Đại học của tôi, trước khi tôi bắt đầu cái Workshop này với sinh viên, tôi đã giáo đầu trước về vai trò của huyền thoại trong nhiều lịch sử của các nước, không riêng gì Việt Nam. Mình dạo qua nước Nhật và nhiều nước khác, mình phải chỉ cho các em có cái nhìn khi nghe huyền thoại của 4 ngàn năm về trước, để các em lấy cái vui là chính, chứ không phải nhìn bằng cặp mắt thực tế. Khi mình tiến dần đến chỗ thực tế hơn, hiện tại hơn, thì các em sẽ thấy lịch sử nó thực hơn; nhưng mà vì lịch sử dân tộc mình quá dài, cho nên cái chuyện huyền thoại từ thuở sơ khai đó nó cũng dễ giải quyết.

Viễn Đông: Như giáo sư vừa nói, lịch sử của mình có một quá trình rất dài, từ những huyền thoại đến chuyện có thật, như vậy phải mất thời gian bao lâu để hoàn tất chương trình Vui học lịch sử, văn hóa Việt?
GS. Doãn Kim Khánh: Chúng tôi phải làm rất gọn lại, chương trình không chỉ có lịch sử mà có văn hóa nữa, nhưng chúng tôi chưa đề cập đến văn hóa, chỉ chú trọng đến lịch sử trước, vì không muốn làm các em choáng ngợp về chiều dài lịch sử như anh nói, nên bốn giai đoạn mà tôi đưa ra, thứ nhất là lịch sử Dựng nước, thứ hai là lịch sử Giữ nước, thứ ba là lịch sử Mở mang bờ cõi, thứ tư là lịch sử Tỵ nạn, một vấn đề vô cùng khó khăn khi phải đề cập đến. Bốn vấn đề đó, chúng tôi làm bốn Workshop và chia ra hai cấp. Cấp 1 từ 9 đến 15 tuổi, cấp 2 từ 16 đến hết bậc College tức là khoảng 22, 23 tuổi. Tóm lại trong 4 workshop đó, chúng tôi chú trọng chủ đề và kể chuyện là chính, vì như chúng ta thấy, lịch sử chính là một câu chuyện.

Viễn Đông: Sau Workshop đầu tiên tại Viện Việt Học, Giáo sư có tổ chức tiếp tại địa điểm khác hay không?
GS. Doãn Kim Khánh: Sau buổi Workshop đầu tiên tại Viện Việt Học vào lúc 3 giờ chiều thứ Bảy ngày 15-1-2011, chúng tôi sẽ tổ chức các Workshop lưu động nếu có yêu cầu của các cơ quan, đoàn thể hay các Trung tâm Việt ngữ. Xin liên lạc với chúng tôi: Doãn Kim Khánh (714) 487-3067 - Cô Thụy Minh Hồng (714)595-5769 - cô Kim Ngân (310)704-0667 hoặc email: info@viethoc.com.

Viễn Đông: Xin cám ơn Giáo sư Doãn Kim Khánh và Thầy Nguyễn Minh Lân.

Source: http://www.viendongdaily.com/Contents.aspx?item=0&contentid=9820





Apr 2, 2011

MẨU CHUYỆN DU CA - Anh Quân


Bài hát du ca Việt Nam đầu tiên tôi được học hát là bài "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ”, mà người ca sỹ trong nhóm du ca mà tôi đầu tiên tôi được gặp là Trần Đình Quân. Lúc đó tôi mới được 9 tuổi thì tôi làm sao biết Du Ca là cái gì. Đi học ở trường thì đến giờ học hát, cô giáo dạy các bài như “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”, “Nối vòng tay lớn”, “Sư Phạm Thực Hành hành khúc”.... thì cứ vỗ tay theo nhịp bạn bè mà hát. Còn chuyện tôi gặp ca sỹ Trần Đình Quân thì tôi làm sao hiểu nổi phong trào du ca của ông. Lúc đó tôi chỉ biết là mẹ tôi nói Chú Quân đi du học chung với mẹ tôi tại Úc vào năm 1972 , nay vào Sài Gòn chơi, cùng đi chung với cô Hương (vợ chú) sẽ đến nhà ăn cơm. Sau đó mẹ tôi nói thêm là chú Quân có sang tác nhạc Du Ca và dạy học ngoài Đà Nẵng. Mãi cho đến khoảng năm 1985 hay sao đó, tôi nghe tin nhạc sỹ Trần Đình Quân tới Mỹ và có làm việc cho tờ báo “Người Việt”. Đến năm 1991, tôi đi Mỹ chơi, có đến tòa soạn Người Việt là thứ nhất gặp ông Tự vì ông này trước kia có sống tại London, tôi có quen, nên ghé thăm thì được bết ông làm việc cho tờ “Thế Kỷ 21”, văn phòng kế bên. Kế tiếp là vào chào nhạc sỹ Trần Đình Quân vì ông là bạn của mẹ tôi.

Cho đến cuối thập niên 90, mẹ tôi có qua thăm ông Trần Đình Quân, nhưng lúc đó ông đã vướng vào bệnh “Đãng Trí”, không biết sao lúc gặp mẹ tôi, ông lại tỉnh ra đôi phần và nói với mẹ tôi là không được rồi bà ơi ! Chắc ông tin là mình không còn kéo dài mạng sống của mình. Vài năm sau thì ông qua đời nhưng mẹ tôi cũng không hơn gì ông là cũng vài năm kế tiếp đi thăm ông ở thế giới bên kia.

Khuôn mặt du ca thứ nhì tôi gặp là ông Đỗ Ngọc Yến. Lúc đó là khoảng năm 1997 hay 1998, ông cùng phu nhân đi du lịch châu âu và ghé thăm London. Trong khoảng 3 tiếng được ngồi nghe ông nói chuyện thì ông bàn về lãnh vực báo chí chứ không nói một câu chuyện du ca nào cả. Ông là người rất điềm đạm, cách nói chuyện ít pha trò như các nhà báo Việt Nam tôi gặp qua là ông Vũ Anh, Đinh Quang Anh Thái . Có lẽ vì bệnh tiểu đường nên ông Yến cũng ít nói hơn.

Vào thập niên 90, tôi có đặt mua báo tháng là tờ “Làng Văn”. Thời gian đó chưa có Internet nên báo in có rất nhiều độc giả. Tờ “Làng Văn” thành công là có nhiều cây bút hung hậu hợp tác. Nhất là khi ra giải thưởng văn chương cho các cây bút mới, Nhờ đó mà tôi say mê nhất bộ truyện phóng tác về xã hội đen của nhà văn Trường Sơn Lê Xuân Nhị. Có lẽ sau quyển “Bố Già” của Ngọc Thứ Lang dịch thì phải nói đến bộ “Sếp Al Capone” của Lê Xuân Nhị.

Mỗi tháng khi tờ Làng Văn tới tay, việc đầu tiên là tôi phải ngồi mê mẩn đọc truyện Al Capone, y như Sài Gòn ngày xưa là mọi người đợi báo đăng truyện Kim Dung. Sau đó là tôi đọc các tin tức sinh hoạt cộng đồng, tôi cũng hay thấy tin sinh hoạt Du Ca tại Hòa Lan do anh Nguyễn Quyết Thắng tổ chức và từ đó thì tôi biết tên anh Thắng và chỉ có vậy thôi. Ngoài tôi cứ nghĩ thì sống tại Ấu Châu thì sẽ có ngày gặp nhau. Vậy mà tôi nghe tên anh Nguyễn Quyết Thắng từ những năm 1995 , mãi cho đến năm 2010 tôi mới co duyên gặp được anh, mà cũng phải nói nhờ cô bạn tại Mỹ quen biết anh và gia đình anh, còn không thì tôi cũng chỉ nghe tên mà thôi.


Anh Nguyễn Quyết Thắng

Đến gia đình anh Thắng là thấy đầy màu sắc văn nghệ. Nghe anh chị Thắng kêu tên những người con thấy thích vô cùng vì mỗi cái tên đều có lien quan đến âm nhạc. Các nhà nghệ thuật luôn chọn tên con mình rất là phong phú, nghe qua một lần khó mà quên được, cũng như tên những người con của nhà thơ Trần Dạ Từ và nhà văn Nhã Ca. Anh chị Thắng rất là trẻ trung cho dù đã lên chức ông bà. Có lẽ tinh thần du ca đã chọ họ một cái nhìn lạc quan về xã hội và nhất là đóng góp phát triển cho xã hội. Đặc biệt ở trong một đất nước chiến tranh, mạng người không một giá trị. Anh chị đã nhìn thấy những điều mà tôi cũng như bạn bè chưa thấy, chưa nghe và không tưởng tượng nổi cái mà xảy ra trên đất nước Việt Nam gần 50 năm về trước.

Trong một tuần vừa qua, không biết bao nhiêu bài viết nói về nhạc sỹ Nguyễn Đức Quang, có người quen ông rất là nhiều đã viết hết tất cả về ông. Có người chẳng quen ông cũng viết được về ông. Tôi ngồi đọc hết tất các bài về ông đến nỗi không quen ông mà cũng có cảm giác biết về ông. Cái này có thể gọi thấy gởi nổi tiếng, nhận làm quen, mà giờ ông mất rồi nhận quen càng dễ nữa vì đâu có ai làm chứng.


Chuyện mà tôi thích nhất là vào tháng 12 năm 2007, khối 8406 tại Sài Gòn đứng lên chống Trung quốc chiếm Trường Sa và Hoàng Sa. Họ đã đồng ca bài “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” sau 32 năm chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, chưa có một bài hát nào trước 1975 được chính thức đồng ca tại chốn công cộng. Nhiều người sanh sau đẻ muộn họ đã hát và hát một cách nồng nhiệt , đâu khác một Hội Nghị Diên Hồng. Đây là một lý tưởng , một điều nhạc sỹ Nguyễn Đức Quang cũng như anh chị Nguyễn Quyết Thắng đã làm là trong một xã hội bi quan mà bài hát và tiếng hát của họ đã mang đầy sự hy vọng. Không buồn bã và đầy thất vọng như nhạc Trịnh Công Sơn, không nhẹ nhàng như bài “Việt Nam, Việt Nam” của Phạm Duy. Tiếng ca của Du Ca mang đầy nhiệt huyết, một tình thần Hướng Đạo, một sinh hoạt đầy tình thương như Gia Đình Phật Tử và hoạt động hướng thiện để bớt nổi đau thương trong xã hội này.

Nhạc Sỹ Nguyễn Đức Quang và nhóm du ca sinh hoạt hoàn toàn bất vụ lợi, họ không giàu về vật chất nhưng giàu về tinh thần, vì đây là một tình thần bất diệt, mãi mãi sẽ không bao giờ mất. Người ta có thể không nhớ nhạc sỹ Nguyễn Đức Quang nhưng người ta sẽ không bao giờ nói không biết bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” và nhóm Du Ca.


Người ngoại quốc họ đã tự hào đất nước họ có những người tham gia Hướng Đạo từ thưở bé, nhờ đó khi họ hớn lên trở thành người nổi tiếng như bên Mỹ , phi hành gia Neil Armstrong, người lên mặt trăng đầu tiên, sau đó 10 phi hành gia khác lên cung trăng cũng là Hướng đạo sinh. Diễn viên Harrison Ford nhờ tham gia hướng đạo nên diễn xuất vô cùng xuất sắc trong vai Dr Jones của phim Indiana Jones và Đạo Diễn Steven Spielberg cũng là hướng đạo sinh nhờ vậy ông đã tạo ra một hình tượng Dr Jones và nhiều cuốn phim của ông được xem là phim “Hay nhất trong mọi thời đại” hay “100 phim hay phải xem trước khi chết”. Các vị Tổng Thống Mỹ là ông George Bush, Bill Clinton và Johm F Kennedy là hướng đạo sinh. Ngoài ra còn có nhà tỷ phú Bill Gate và ca sỹ Jim Morrison của ban nhạc DOORS. Còn bên Anh quốc là cầu thủ bong đá là David Beckham và Michael Owen. Cựu Thủ Tướng John Major và đặc biệt là nhà thám hiểm trứ danh thế giới là Sir Ranulph Fiennes, cuộc đời của ông là leo trèo từ núi qua đá băng, ông có nói nếu ông không là hướng đạo sinh là ông đã chết nhiều năm về trước vì cách cột dây nút dẹp hay nút kép (Reef knot) đã giúp ông trong lúc đi chinh phục thiên nhiên vì lúc đang leo núi không biết cột theo kiểu nút dẹp là sẽ té lăn ra mà chết. Sir Ranulph được xem một người già đã đi chinh phục ngọn Erverest, đó là vào năm 2009, lúc đó ông được 65 tuổi.

Vậy quay lại đất nước chung ta, nếu ai có hỏi tôi người Hướng Đạo Sinh nào là tiêu biểu cho đất nước Việt Nam thì tôi sẽ không ngần ngại trả lời ngay tức khắc là nhạc sỹ du ca Nguyễn Đức Quang vì ông đã hội đủ mọi diều kiện, những gì ông đã đóng góp cho đất nước Việt Nam quá đầy đủ và không hổ thẹn con cháu Lạc Hồng cũng như truyền thống hơn 100 năm Hướng Đạo.
Nguyện cầu hương linh Nhạc Sỹ Nguyễn Đức Quang sớm tiêu diêu miền cực lạc.

ANH QUÂN


Photos: hình ảnh "Chiều Du Ca - Nguyễn Đức Quang" 03/13/11 tổ chức tại Quận Cam - Hoa Kỳ


Mar 27, 2011

HUONG IN NEED - STEVE INDEED




Once upon a time, a "friend in need" complained to her "friend indeed" that her energy for her Biology class had spent itself!

The "friend indeed" did not say anything when hearing that complaint, but wrote two awesome emails to his "friend in need" :


Dear Huong,

You sounded disappointed last night. Yes, you have to study in two languages at the same time.

You've been here two years and are taking an incredibly hard class in English and Latin.

Earlier, I told you, "I don't know how you do it." This morning, talking with my wife, she said, "I don't know how she does it."

OK, so you're a puzzle.

You also are the smartest person I've found in that room. You are very quick to learn. You are skilled at encouraging others and helping them learn, too.

You can do this. All we have to do is pass. It does not have to be a competition with the others. The grade does not necessarily indicate what you have learned.

You told Ray once that you really enjoy the class other than the exams. That means you're learning it and will retain the information well when you are out in the workplace.

You can do this.

Steve


Another thing.

All we need to pass the class is an average of 69%. I figure that should really be 70%. 70% of 960 total points is 672 points (662.4 if you figure at 69%).

So add up your total points. (Lab 1 + Lab 2 + Quizzes 1-4 + Lecture 1 + Lecture 2 = X.)

Subtract from 672 and that will tell you how many more points you Need To Pass. (672 - X = NTP.)

Divide that by 5 more tests and that is the average score you need if you get 0 on the next two lab tests. (Y / 5 = Z.) That is the worst case scenario.

For a better scenario: If you add some points for the next two quizzes before you divide by 5, that is the Realistic Average Score you need on the next 5 tests.

(NTP - 20) / 5 = RAS or Realistic Average Score

X + 20 = TP or Total Points

(672 - TP) / 5 = RAS

That is the better scenario.

All we need to do is pass. You are learning the material either way.

Don't worry. I'll worry for you. Isn't that better?

Steve

Mar 24, 2011

Tranh TÓC VÀNG SỢI NHỎ - Thanh Tùng



"Mùa thu Paris"Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn ly

Mùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờ

Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt gía từ tâm

Mùa thu nơi đâu ?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu

Mùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thì

Mùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đời

Mùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng, giam tù

Mùa thu !... Trời ơi ! Tình thu !

Cung Trầm Tưởng



Mar 22, 2011

NHÌN NGƯỜI NHẬT VƯỢT QUA CƠN ĐẠI NẠN, NGHĨ VỀ GIÁ TRỊ TINH THẦN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Người dân Nhật cùng nhau vượt khó
với một tinh thần dân tộc cao độ (ảnh AFP)

Hơn một tuần qua, người Việt trong và ngoài nước chuyền nhau những tin tức trên mạng về cách thức mà dân tộc Nhật vượt qua cơn đại nạn động đất và sóng thần. Có hai mẫu tin được nhắc tới nhiều nhất. Một là câu chuyện từ một cảnh sát người Nhật gốc Việt, anh Minh Thành. Anh kể chuyện rằng trong lúc đang cứu giúp người bị nạn ở Fukushima, anh gặp một em bé người Nhật 09 tuổi đang xếp hàng để đợi phát thức ăn. Em chỉ mặc một chiếc áo thun và quần đùi, trong khi trời lạnh cóng. Lại hỏi chuyện, mới biết em đã mất cả cha lẫn mẹ trong đợt sóng thần. Anh Thành nhường chiếc áo khoác và phần lương khô của mình cho em, vì sợ em xếp hàng ở cuối thì đến phiên em sẽ không còn thức ăn. Không ngờ em đem phần ăn này lên nộp lại vào thùng phân phát, và bảo rằng có nhiều người còn đói hơn em, cho nên để phát chung thì công bằng hơn. Anh Thành đã khóc vì được một em bé Nhật 9 tuổi dạy cho bài học làm người.

Mẫu tin thứ hai lượm lặt từ nhiều đặt phái viên của những tờ báo lớn, tường thuật về thái độ của người Nhật khi phải đương đầu với hoạn nạn. Đó là tính kỷ luật phi thường. Đó là lòng tự trọng cao độ. Đó là tinh thần tập thể, tương trợ lẫn nhau đã có sẵn trong nếp sống lâu đời của dân Nhật. Không thấy cảnh hôi của trong cảnh hỗn loạn. Những đồ đạc cá nhân trong đống đổ nát vẫn được tôn trọng. Những chiếc máy ATM còn nguyên vẹn, không ai cướp phá. Người dân Nhật đang chịu thảm họa vẫn xếp hàng một cách trật tự để mua dầu hỏa, để nhận phần thức ăn cứu trợ.

Cả thế giới khi đọc những mẩu tin này đã ngã đầu kính phục dân tộc Nhật. Ai cũng tin tưởng rằng nước Nhật sẽ lại đứng lên hùng cường một lần nữa. Cách đây gần 07 thập niên, nước Nhật gần như là bình địa khi Thế Chiến Thứ Hai kết thúc. Họ chỉ mất có 04 thập niên để đưa đất nước mình trở lại vị trí hàng đầu thế giới, gần bằng khoảng thời gian mà Việt Nam kết thúc nội chiến vào năm 1975 đến ngày hôm nay.

Đâu là nguyên nhân chính dẫn đến câu chuyện thần thoại của dân Nhật trong thế giới hiện đại này? Đã có nhiều nhà chuyên môn phân tích, nhưng câu kết luận chung nhất đó là yếu tố con người. Người dân Nhật có một nền văn hóa, tôn giáo lâu đời. Đó là Thần Đạo, Phật Giáo. Những giá trị của văn hóa và tôn giáo này đã tạo một niềm tin vững chắc cho dân tộc Nhật. Nó thấm sâu vào nếp sống, suy nghĩ thường ngày của người Nhật. Nó không hề bị mất đi cho dù nước Nhật đã trở thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại với cuộc sống bận rộn, hối hả vào loại nhất thế giới. Khi người dân Nhật tin vào sức mạnh của công đồng trong nếp nghĩ truyền thống, thì tinh thần này còn phát huy mạnh hơn trong khi họ gặp hoạn nạn. Họ tin rằng tôn trọng cộng đồng là cách tốt nhất để bảo vệ quyền lợi cá nhân và gia đình. Niềm tin này được củng cố trong một xã hội mà phép nước nghiêm minh, người dân đặt niềm tin vào chính quyền. Ở Nhật cũng có người giàu, người nghèo, nhưng đơn giản là nền văn hóa của Nhật không chấp nhận được chuyện hôi của, và cũng không chắc là trong tự điển Nhật có một từ để mô tả hành động này. Một chuyên gia khác phân tích rằng khi gặp chuyện tích cực, người Nhật tìm đến Thần Đạo; còn khi phải đối mặt với thảm họa, họ tìm đến với Phật Giáo. Những giá trị văn hóa, tôn giáo chính là sức mạnh tinh thần của dân tộc Nhật, đã làm cả thế giới phải kính nể họ.

Cả thế giới kính phục, và cùng chia xẻ
khó khăn với người Nhật

Còn dân tộc Việt Nam mình thì sao?
Chuyện nền kinh tế Việt Nam đang trên bờ vực phá sản vì nợ quốc tế và lạm phát có phải là một thảm họa? Con số thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam hiện đang đứng ở thứ hạng 167 trên thế giới có phải là một thảm họa, hay đó là một vị trí cũng chấp nhận được? Chuyện nước Việt Nam mất dần chủ quyền đất và biển vào tay Trung Quốc có phải là một thảm họa, hay đơn giản chỉ là điều không thể tránh khỏi?

Nếu xem đó là một thảm họa do con người gây ra, thì hầu hết mọi người Việt đều đồng ý rằng nguyên nhân chính là do sự cai trị tồi tệ của chính quyền Việt Nam. Một đất nước giàu tài nguyên, người dân cần cù chịu khó, tiền vay của quốc tế hàng trăm tỉ Đô La để phát triển đất nước trong vài chục năm. Vậy mà tình hình đất nước lại thảm hại như ngày hôm nay, đặc biệt là trong giai đoạn các khoản nợ vay quốc tế đã sắp đến lúc con cháu mình phải trả. Liệu dân Việt mình có vũ khí tinh thần nào để vượt qua quốc nạn và đi lên giống như người Nhật?

Đã có ý kiến của một số người thuộc tầng lớp học thức trong và ngoài nước cho rằng đất nước Việt Nam sẽ chẳng bao giờ khá hơn được, và đã quá trễ để tìm ra thuốc chữa, cho nên mình nên chấp nhận với thực tế hiện nay! Xin tôn trọng những ý kiến này. Và nếu điều này đúng, thì đó sẽ là một sự thật đáng buồn nhất cho tất cả những ai mang dòng máu Việt!

Nhưng cũng có nhiều người tin rằng dân Việt vẫn xứng đáng có một tương lai sáng sủa hơn, và dân Việt vẫn còn có thể thay đổi tình thế. Vậy thì mình có thể làm được gì để chuẩn bị cho tương lai ?

Vẫn là yếu tố con người.

Nếu nước Nhật đã, đang và sẽ đi lên chỉ bằng yếu tố con người, thì nước Việt Nam cũng thế.Người Việt cũng có những đức tính, những truyền thống tốt đẹp. Nếu không, chúng ta đã bị đồng hóa bởi Trung Hoa từ lâu rồi. Xét về truyền thống, hai dân tộc Nhật-Việt có chung một số truyền thống, thí dụ như Phật Giáo, người Nhật và người Việt đều có lòng yêu nước, tinh thần vượt khó, bền chí, cần cù, một sức sống mãnh liệt… Điểm rẽ lịch sử quan trọng nhất trong quá khứ có lẽ là thời điểm nước Nhật đi vào thời Minh Trị canh tân, còn chính quyền phong kiến Việt Nam bảo thủ không chịu canh tân đất nước, để đất nước mất vào tay người Pháp, rồi rơi vào tay cộng sản, rồi chiến tranh triền miên, rồi loay hoay ở vị trí những nước nghèo mãi đến tận ngày hôm nay. Nguyên nhân vẫn là do con người…

Tình hình hiện tại thì càng nguy hiểm hơn cho dân tộc Việt. Người trong nước đang bị chính quyền hoặc hoàn cảnh tước dần những giá trị tinh thần quan trọng nhất của dân tộc Việt, những giá trị đã giúp chúng ta trường tồn đến ngày hôm nay. Người dân bây giờ phải né tránh khái niệm về lòng yêu nước. Nói đúng hơn, lòng yêu nước chỉ còn được thể hiện bằng một lý tưởng duy nhất, lý tưởng làm giàu. Làm giàu bằng mọi cách, bất kể việc làm giàu đó làm nghèo đi đất nước, làm xã hội xuống cấp. Những biểu hiện khác của lòng yêu nước chân chính đều nguy hiểm cho bản thân. Nhiều người chọn thái độ an phận, mũ ni che tai. Bên cạnh đó, người dân ngày càng xem thường kỷ cương phép nước, xem thường việc tôn trọng pháp luật. Điều này cũng dễ hiểu, khi mà chính những người nắm quyền dùng luật pháp để tư lợi cá nhân, lách luật để làm giàu, thì người dân thường tuân thủ pháp luật làm sao mà sống nổi? Thượng bất chính, hạ tắc loạn. Xã hội Việt Nam mất dần đi khái niệm tôn trọng luật pháp qua những biểu hiện thường ngày: vượt đèn đỏ, đưa nhận hối lộ gần như công khai, kém ý thức tôn trọng của công… Và một điều quan trọng nữa, là người dân Việt bắt đầu quen dần với sự gian dối, mất dần đi những giá trị căn bản của đạo đức. Người ta làm chuyện gian dối để dành phần lợi về cho cá nhân một cách dễ dàng. Chuyện làm ăn lừa đảo, chụp giựt, thiếu chữ tín… đã trở thành bình thường trong xã hội. Trách dân làm sao được, khi vài chục năm nay họ đọc, nghe, xem những điều dối trá trong sách sở-báo chí, radio, ti vi hàng ngày. Mới đầu nghe thấy khó chịu. Nghe mãi rồi quen. Sau đó nhận thấy dối trá “một chút” mà kiếm được tiền thì cũng làm thử, lúc đầu ít, sau nhiều dần. Trong vài chục năm qua, những giá trị tinh thần của chúng ta đã đi mất dần như vậy đó. Sự mất mát này có lẽ lớn hơn nhiều lần hậu quả của đợt sóng thần đã đổ vào nước Nhật. Sẽ không có thiên tai nào có thể phá hủy đất nước Việt Nam nặng nề hơn là sự phá hủy giá trị con người. Biết làm sao được. Trong khi người Nhật nuôi dưỡng, hun đúc những giá trị tinh thần dân tộc mình từ bao thế hệ, thì ở Việt Nam chúng ta, chính quyền đã đạp đổ những giá trị cũ, xây dựng thất bại những giá trị mới, rồi nay đang cố gắng chắp vá lại những mảnh vụn đã vỡ của tinh hoa dân tộc. Đúng là quốc nạn lớn nhất trong lịch sử Việt Nam!

Nhưng chẳng lẽ người Việt chỉ còn biết than thân trách phận, không còn cách nào cứu vãn được gia sản tinh thần của cha ông để lại? Vẫn biết là người dân trong nước chịu áp lực từ sự kiểm soát của chính quyền rất lớn, những không lẽ hành động có ý nghĩa cho dân tộc nào cũng nguy hiểm hết hay sao? Không hẳn là như vậy. Yếu tố con người vẫn là tài sản riêng của từng cá nhân, từng gia đình trước khi gộp chung vào xã hội. Vậy thì nếu mỗi cá nhân, mỗi gia đình Việt Nam có ý thức, tự giữ gìn những giá trị đạo đức cho riêng mình, thì sự xuống cấp cấp chung của xã hội sẽ được ngăn chận lại rất đáng kể. Nên nhớ rằng tinh thần gia đình Việt Nam cũng là một truyền thống quí báu của dân tộc mình. Hãy tự giữ gìn những giá trị đạo đức mà ngoài xã hội đã bị hư hao trong mỗi gia đình Việt Nam. Hãy bắt đầu bằng những việc đơn giản nhất. Thí dụ như dạy con mình không vượt đèn đỏ cho dù không có cảnh sát, làm như vậy là vì lòng tự trọng, bất kể những người khác có làm hay không. Khi đọc, nghe, thấy một điều gì trái với đạo lý, nên dạy cho con trẻ cảm thấy khó chịu, nói không với điều sai trái. Tránh thái độ lãnh đạm với cái xấu, tạo điều kiện để dần dần cái xấu đồng hóa mình. Khi biết có một người vì biểu hiện lòng yêu nước, vì chống lại cái xấu mà bị chính quyền kết tội, hãy dạy cho con thái độ đồng cảm, bất kể báo chí nói xấu, chống lại họ. Chắc hẳn chính quyền sẽ không thể làm hại gì mình vì thái độ đồng cảm này. Khi mình không thể tham gia biểu tình chống Trung Quốc lấn đất, dành biển, bắt bớ ngư dân Việt, ít nhất mình cũng nên thương cảm cho những người dám bày tỏ lòng yêu nước mà bị tù tội, cho dù là họ dại dột, hay việc làm của họ chẳng có kết quả gì. Những việc làm có vẻ vô bổ này, nhưng đó là một cách nuôi dưỡng hữu hiệu lòng yêu nước trong thế hệ trẻ.

Xin đừng chê việc nhỏ không làm. Một cá nhân có ý thức về những giá trị tinh thần của dân tộc sẽ ảnh hưởng đến một gia đình. Rồi gia đình này sẽ ảnh hưởng đến một gia đình nữa. Mười gia đình. Một trăm gia đình. Một ngàn gia đình biết giữ gìn giá trị tinh thần của giòng dõi Lạc Hồng. Đó sẽ là kho tàng vô giá để phục hưng Việt Nam trong tương lai, yếu tố con người. Và cũng xin đừng nghĩ mình đang làm những điều xa vời. Không! Làm như vậy chính là để đầu tư cho con cháu chúng ta, những người sẽ tiếp tục sống trên mảnh đất hình cong chữ S bên bờ Đông Hải mang tên Việt Nam. Triều đại, chế độ chỉ là tạm thời. Chỉ có dân tộc là trường tồn mãi mãi…

Hoa Sen







Mar 21, 2011

Tản mạn văn nghệ - ANH QUÂN

Nhã Ca, Trần Dạ Từ và Doãn Quốc Sỹ

Tôi không quen ông Trần Dạ Từ, nhưng lại biết về ông, mà ngược lại thì ông chẳng biết tôi là ai. Thật ra tôi biết nhà văn Nhã Ca nhiều hơn, vỉ tôi thìch đọc văn xuôi, mãi sau này tôi được nghe Bà là phu nhân của nhà thơ Trần Dạ Từ. Cho đến khi tôi đọc quyển “Hồi ký trên gác trọ” của nhà văn Nguyễn Thụy Long, ông kể ông Trần Dạ Từ là một thiên tài về thơ, được giải thưởng quốc gia từ thời niên thiếu. Sau này tôi gặp cựu phóng viên là ông Anh Tử đang sống tại London thì tôi biết thêm một chi tiết là ông Trần Dạ Từ là một phóng viên ngày xưa của Việt Nam Cộng Hòa cũng nhờ đó tôi mới biết tờ Việt Báo tại Cali do ông làm chủ bút.

Cho đến ngày gia đình ông được đi tỵ nạn chính trị tại Thụy Điển vào cuối thập niên 80 thì báo chí Việt Nam tại hải ngoại đều đưa tin hang đầu và đây là một “Tin Nóng Hổi”. Thời đó hai tờ báo Việt khá phổ thông tại châu âu là tờ “Phụ Nữ Diễn Đàn” của ông Chữ Bá Anh và tờ “Làng Văn” tại Canada là viết rất đầy đủ chi tiết về gia đình ông, nên tôi mới biết thêm các người con của ông như “Sớm Mai, Hòa Bình, Vành Khuyên...”

Gần đây nhất, nhờ người bạn thân có tham dự vào buổi văn nghệ “Nụ Cười Trăm Năm- Trần Dạ Từ” tại nam Cali thì tôi biết thêm một số thông tin về sinh hoạt văn nghệ của ông, tôi mới biết thơ của ông được phổ thành nhạc. Tôi không có khiếu về âm nhạc, nhưng xem có duyên với âm nhạc Việt Nam, có thể nói tôi thuộc loại “có duyên mà không có nợ” vì trong quá khứ tôi được ngồi nghe chuyện của các ca sỹ Việt Nam khá nhiều.

Nói về nhạc sỹ thì người đầu tiên tôi được gặp là nhạc sỹ Phạm Duy. Tôi nhớ vào mùa hè 1991, có một người quen gọi phone đến nói ông Phạm Duy qua London lần thứ hai và muốn tổ chức thêm buổi nói chuyện về chủ đề nhạc “Bày Chim Bỏ Xứ”, giờ không có chỗ trình diễn, nay nhờ cái Hall công đồng của tôi. Cũng vì cái tật ham gặp người nổi tiếng, nên tôi đồng ý, rồi tự một mình đi mượn hệ thống âm thanh về để ông trình diễn.

Số khách tới dự cũng chỉ khoảng 70-100 người. Tôi không biết bao nhiêu người ủng hộ mua sách, tôi chỉ biết sau đó ông Phạm Duy rời London, để lại khoảng 20 quyển sách và CD về “Bày Chim Bỏ Mạng” cho một người quen, nhờ ông ta bán. Đến giờ tôi cũng không rõ là hai người đó đã thanh toán tiền bạc chưa, nhưng người tôi quen thì đã qua đời còn ông Phạm Duy đã về Việt Nam an cư lạc nghiệp. Có đều tôi biết chắc người tôi quen không bán được quyển nào, vì nhà ông ta chật quá, ông ta đến văn phòng tôi để nhờ 20 quyển sách. Cho đến năm 2006, tôi phải dọn văn phòng, tôi không thể nào đem sách đi được, mà tôi nghĩ tôi có phone về Việt Nam hỏi ông Phạm Duy là có lấy lại sách không? chắc ông không cần nữa vì ông đâu còn bỏ xứ. Sau đó tôi khệ nệ ôm cả chồng sách ra thùng rác, tôi cứ tàn nhẫn liệng từng quyển vào thùng. Miệng tôi cứ lẩm bẫm, thôi “Chim khỏi bỏ xứ mà nay chim đã bỏ mạng rồi, con chủ của Chim thì nay đã đoàn tụ rồi”.

Người thứ hai tôi có duyên là nhạc sỹ “Trần Quang Hải”, tôi rất thích ông Hải vì ông là người mộc mạc, nói chuyện vô cùng bình dân. Tôi thích các câu chuyện nói về ca sỹ Việt Nam, nhất là chuyện về cái chết của ca sỹ “Jeanie Mai”. Nhưng chuyện tôi gặp ông không thú vị bằng thằng bạn của tôi trước sống tại Pháp mà có duyên gặp ông, nay thằng bạn tôi đã đi Canada. Thằng bạn tôi vốn là chuyên viên sửa máy computer, nó làm cho một đại công ty bán máy computer tại Pháp, nơi nó làm lại gần nhà ông Trần Quang Hải. Vào một ngày ông Hải đi vào tiệm để sửa máy, ông ăn mặc vô cùng bình dị thì mấy thằng Tây có vẻ coi thường ông Hải. Sau đó bạn tôi nói tui nó nên vào Website của ông mà đọc, thằng nào đọc xong cũng chóng mặt về bằng cấp của ông hết và từ đó trở đi thì cả đám đều nhìn ông với ánh mắt khâm phục .

Người thứ ba là tôi gặp là nhạc sỹ Ngô Thụy Miên, vì ông sống tại Olympia ở tiểu bang Washington, mà ông là thành viên đánh mạt chược trong gia đình của than nhân tôi. Mỗi lần bên đó có đám cưới và tiệc tùng thì tôi qua dự, mỗi lần dự tôi đều gặp ông. Lần đầu là đám cưới đứa cháu gái của tôi, lần đó tôi qua chụp hình cưới cho nó, thì có ông thợ quay phim Video đến. Khi đang làm thì ông thợ Video (tôi không biết ông ta), ông ta cứ đứng sát vào tôi, cứ lien tục nói ông Ngô Thụy Miên kìa, ông Miên kìa. Tôi cũng chỉ nói chuyện xã giao với ông ta mà thôi.

Có những người mình nghe nhiều, mà còn lại nghĩ rằng sẽ dễ dàng gặp họ. Như nhà văn Doãn Quốc Sỵ, tôi nghĩ tôi có nhiều cơ hội gặp ông ta, vì nhờ quen con gái của ông, thế mà đến giờ tôi vẫn chưa được gặp, mà vẫn tiếp tục đọc lại các tác phẩm của ông như “Đi”, “Mình loại soi mình”, “Khu rừng lau”.... cho nên đến giờ tôi chỉ có duyên với văn chương của ông mà thôi. Nhờ đó tôi cũng biết đến nhạc sỹ Doãn Nho. Tôi không biết ông ta nhiều cho lắm nhưng tôi lại được nghe bài “5 anh em trên một chiếc xe tăng” vì tôi chuyên đi quay phim cưới cho dân Nghệ An, Hà Tỉnh và Quảng Bình, trong tiệc cưới của họ là họ sẽ quay quần cùng nhau hát bài này. Mà cũng phải công nhận có những nhóm họ tập trung lại khi vào bài hát thì vào nhịp rất là hung tráng, cái tiếng “ Hụ Hụ Hụ... “ mở màn của họ gây ra cảm giác hào hứng xung phong ra chiến trường. Hơn 2 năm trước về Việt Nam, dự đám cưới đứa cháu vợ của tôi, bên vợ tôi là người Nghệ An thì lát sau tất cả anh vợ tôi lại kêu hết người Nghệ An lên sân kháu hát bài “5 Anh em...”. Tôi nghe trên sân khấu về bài này khá nhiều, nhưng tôi càng phải nghe nhiều khi cắt ráp phim, xem ra tôi cũng có duyên với nhạc của Bác Nho.

Quay lại ông Trần Dạ Từ thì giờ tôi biết thêm ông qua bài viết của Ngọc Lan - Nhật Báo Người Việt và của anh Đoàn Hưng qua bài viết mới nhất là “Ghi nhanh một vài cảm nghĩ về đêm nhạc Trần dạ Từ”. Xem ra một chương trình vô cùng thú vị nhưng tôi cảm thấy buồn vì vào ngày hôm nay không còn những nhân vật có tầm vóc như ngày xưa nữa. Nếu giờ cầm bút lên viết về văn nghệ - văn chương hiện tại thì mình viết được về ai đây? Hơn 30 năm nay, đọc báo chí Việt Nam trong cũng như ngoài nước thì tôi không xem được cái gì mới cả, mà chỉ đọc được những gì trong quá khứ thì rất nhiều. Càng buồn nhiều là mình chỉ tự hào được trong quá khứ như phong trào Du Ca, thì cho đến ngày nay không ai sang tác được hơn bài “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của Nhạc Sỹ Nguyễn Đức Quang. Tôi càng buồn thêm vì hè năm ngoái tôi nghe anh Nguyễn Đức Thắng tại Hoà Lan nói sẽ cùng anh Nguyễn Đức Quang đi du lịch Đông âu và tôi nghĩ giấc mơ này sẽ thành giấc mơ xa vời. Nếu bước qua lãnh vực thể thao thì đâu còn vinh quang về môn bóng bàn Việt Nam vào thập niên 50, cũng như từ năm 1954 đến giờ chỉ có một người Việt Nam duy nhất đi dự giải Tennis Grand Slam là ông Võ Văn Bảy, người đầu tiên có mặt tại “French Open”.

Qua nghệ thuật vẽ thì vẫn chưa có ai hơn Họa Sỹ Choé về trường phái hý họa, còn nhiếp ảnh thì luôn chỉ nhắc những trên quen thuộc như ông Cao Đàm, Cao Lĩnh, Nick Ut...

Câu chuyện lan man xin tạm dừng tại đây và xin hẹn gặp lại lần sau.

ANH QUÂN

PS:
Bà Hương,
Mấy tấm hình anh Quang chụp phóng sự hay đó. Bà bỏ lên blog giữ làm kỷ niệm.
AQ