Jan 15, 2011

BỨC TRANH THỨ SÁU “KỴ NGƯU QUY GIA” (CỠI TRÂU VỀ NHÀ) - Thích Phước Tịnh




Bài thơ chữ Việt âm Hán:

Kỵ ngưu đà lê dục hoàn gia
Khương địch thinh thinh tống mãn hà
Nhất khách nhất ca vô hạn ý
Tri âm hà tất cổ thần nha.

“Kỵ ngưu đà lê dục hoàng gia” nghĩa là ngồi trên lưng trâu rất thong dong để trâu chở về nhà. “Khương địch thinh thinh tống mãn hà” nghĩa là từng tiếng sáo réo rắt tiễn mặt trời chiều. “Nhất khách nhất ca vô hạn ý” nghĩa là vừa hát, vừa vỗ tay, và muôn vàn điều hứng khởi sinh ra trong tâm thức. “Tri âm hà tất cổ thần nha” là những người bạn hiểu biết được mình không cần phải nói ra.

Bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ:

Lưng trâu thong thả ta về,
Sáo lên vi vút ngoài đê ráng chiều.
Lời ca tiếng nhịp phiêu diêu,
Tri âm nào phải ra điều nói năng.

Có ba điều học được từ bức tranh này. Điều thứ nhất nói về phẩm tính thong dong của người điều phục tâm. Điều thứ hai nói về những cánh cửa mở ra cho người cưỡi trâu về. Điều thứ ba nói về cách sống liên tục với Đạo. Tại sao phải thong dong? Điều này không dễ thực tập. Từ lúc mới sinh ra tới bây giờ, chúng ta có những thói quen ăn vội vàng, đi vội vàng, suy nghĩ vội vàng, không có cơ hội làm chậm lại. Đối với người tu học Thiền, nhất là trên đất nước Tây Phương, phương pháp thực tập rất căn bản ban đầu là làm mọi việc chậm lại là một, làm bằng tất cả sự chú ý của mình là hai. Ví dụ khi đưa tay ra, đưa trọn vẹn bằng thân và tâm. Dở chân lên, uống một miếng nước, làm tất cả đều bằng thân tâm. Không con đường thực tập nào thành đạt được ngoài việc niệm thân. Người nào không niệm thân kỹ, người đó không có khả năng nhìn được cảm thọ sinh khởi trong tâm thức.

Từ căn bản của sự thong dong, có vài điều người tu cần chú ý. Đối với chúng ta, khéo đầu tiên là phải khéo sống và lợi dụng hoàn cảnh. Được vậy, con đường tu của chúng ta không cực nhọc. Nếu biết sắp xếp đời sống, các vị sẽ thành công trong tu học. Bằng không, bao nhiêu việc để tính toán trong đời sống ngăn cản ta không có nhiều thì giờ thanh thản để tu.

Khéo thứ hai là phải biết đối xử với những người thân. Những người trân quý đời tu của chính mình biết cắt bớt những giao tình, đình đám không cần thiết, để dành thì giờ, năng lực, sức khoẻ cho việc luyện công tu học.

Khéo thứ ba là biết sống vị tha và yêu thương. Vị tha có nghĩa là chúng ta quan tâm với người chung quanh nhiều hơn với chính mình. Sâu hơn, nếu nói một lời, làm một điều gì sẽ gây thương tổn đối với người khác, chúng ta dứt khoát không làm. Thực hiện được như vậy, món quà không đến với người kia mà đến với trái tim với chúng ta trước.

Khéo thứ tư là sống chân thật. Khi lòng của chúng ta có sự chân thật, yêu thương, nếu mình nói cộc cằn, người kia cũng cảm được lòng thương yêu của chúng ta. Điều này rất cần cho sự tu học. Nếu mình không chân thật, chúng ta lừa dối với chính mình.

Khéo thứ năm là giải trừ bản ngã của chính mình. Thử nhìn vào cái gọi là “ta bị xúc phạm”, tất cả vì chúng ta nghĩ rằng chúng ta là người này, là người kia nên có cảm giác bị xúc phạm. Cũng giống như đánh vào mặt trống thì ra tiếng, đánh vào hư không thì không có tiếng. Ta nếu có bản ngã, có niềm tự hào, khi bị người khác đánh vào, tiếng phiền não vang ngay. Nếu ta là người khéo tu, lòng mình thênh thang, thách thiên hạ đụng vào ta, chúng ta không hề gặp phiền não.

Khéo cuối cùng là cần làm tâm bồ đề và niềm ham mê tu tập bên trong bùng cháy. Hãy đầu tư toàn bộ thân tâm, máu huyết của mình cho mỗi một việc : đốt ngọn lửa tham tu trong tâm ta. Đó là yếu tố căn bản trong hành trình tu.

Nếu thực tập được các điều căn bản nêu trên, chúng ta có thể cưỡi trâu về nhà, đưa tâm về đến Niết Bàn, đưa đời sống mình về nguồn cội của sự an lạc và hạnh phúc. Đức Thế Tôn ngày xưa trong một thời pháp, trong hội chúng hàng nghìn người, rất nhiều vị cư sĩ do nắm được phép tu căn bản, thể ngộ được đạo mặc dù bận trăm công nghìn việc.

Chúng ta chỉ cần thực tập điều giản dị như nhắm mắt, niệm thầm thì vài ba câu, chúng ta sẽ thấy rõ một điều có sự nhận biết tiếng nói thầm thì. Các vị Tổ Trung Hoa gọi “sự nhận biết” đó là Tâm Phật. Ai nhận biết được sự nhận biết đó là người đang thong dong cỡi trâu về nhà. Tu nhàn hạ như vậy, như một trò chơi. Nếu chúng ta tu giỏi, chúng ta khéo nhận thấy sự nhận biết nỗi vui buồn hay những cảm thọ khác, và thế là đủ.

Trích "Về Nguồn 4" - www.matthuongnhindoi.com

MÁI ẤM - Đoàn Khoa


Mái ấm

Nhiều người coi thường giọng miền Nam cứ nghĩ nó chân chất, mộc mạc và quê mùa, nhưng thực ra không phải vậy, nếu phát âm chuẩn thì nó du dương, thanh cao và sắc sảo không kém gì giọng Bắc Tràng An hay giọng Huế chính hiệu.

Ấy vậy, nghe giọng Nam qua miệng của bà đầm Eugène còn khiến ta kinh ngạc và thán phục hơn nữa chất sang cả đặc biệt của giọng nói này.

Eugène là khán giả trung thành của sân khấu chúng tôi, mỗi lần về thăm Việt Nam là bà cần xem kịch cho dù vở diễn đó đã coi đi coi lại hàng chục lần.

Bà gọi tất cả tụi tôi bằng “con” với giọng đầy thương yêu lẫn quý trọng và “sướng” mỗi khi chúng tôi đáp lại bà bằng “măng”* như người ruột thịt.

Bà già run rẩy, lọm khọm bỗng dưng linh hoạt và “tung tăng” tức thì mỗi khi cả đám tụi tôi ghé thăm.
Chúng tôi thích nghe chuyện của bà.

Khi còn là thiếu nữ, cô “đầm” Eugène dám cãi cha - một quan Tây quyền uy thời đó - bỏ dinh cơ, địa vị, bỏ giai cấp, chạy tuốt xuống vùng Lục tỉnh theo một anh chàng Việt Nam mà cô yêu say yêu đắm.

Mọi thứ lúc ấy từ tiếng nói đến phong tục ở đây đều xa lạ với cô.
-Chẳng ai tin nổi một “con đầm” có thể chịu được ruộng vườn. Họ kháo nhau không sớm thì muộn, hai đứa này thế nào cũng phải bỏ nhau!... – Eugène chép miệng thở dài. -Làm dâu đã khó, làm dâu Việt khó gấp mười lần!!!

Có lẽ nhờ yêu chồng vô hạn mà Eugène đã vượt qua mọi thử thách. Chỉ sau một thời gian ngắn, không những thành thạo tiếng nói, cô còn rành rọt cách làm nhiều món ăn miền Nam như thịt kho hột vịt, cá lóc nướng trui, biết đổ bánh xèo, nấu canh chua cá, giỏi gói bánh tét, nấu chè bà ba… Eugène biết cách chưng bàn thờ ngày giỗ khác với ngày Tết, khéo xếp mấy chai si-rô xanh, vàng, cam bọc trong giấy bóng kiếng “quê ơi là quê” sao cho hợp nhãn dân mình.

-Hồi đó tụi tui ở nhà mái lá, ngủ trên bộ ván ngựa. Tui ghét mưa đêm lắm, nó ẩm và rả rích. Trong cái bóng tối mịt mù với tiếng mưa lộp bộp đều đều làm cho tui lẫn lộn và mất phương hướng, không biết mình đang ở đâu? bên Tây? Sài thành?... hay một một nơi lơ lửng nào đó? Cái hạnh phúc mình đang có là thực hay trong mơ ảo?... Chỉ có anh ấy là điểm tựa duy nhất, thực nhất mà tôi có thể bám víu trong cái khối đen ngòm này… - Eugène mơ màng.

Dừng lại hồi lâu, chẳng biết vì mệt hay bồi hồi bởi những kỷ niệm ngày xưa, bà nói trống không:
-Mọi ý nguyện của ảnh đều đã thực hiện: mấy đứa con giờ đây thành đạt, tụi nó có chức phận và làm nhiều chuyện trên thế giới, cái cầu quê ảnh cũng đã làm xong, trường cho mấy đứa nhỏ dưới đó thì gần hoàn tất,… chỉ còn một ước muốn nhỏ xíu của “măng” chẳng biết bao giờ có dịp …
-“Măng” muốn gì, biết đâu tụi con làm được? - Chúng tôi tò mò.

-“Măng” thèm ở lại dưới mái nhà tranh, ngủ trên bộ ván ngựa, thèm cái lạnh săn sắt của mưa đêm ứ trên da thịt, thèm nghe tiếng bồm bộp rã rời trên mái lá, thèm hửi mùi ẩm mục cỏ cây, mùi nồng nồng bộ ván và thèm chìm lại trong cái bóng đêm sâu thẳm mịt mùng… mà thôi… giờ già rồi, nói nhảm làm tụi bay sợ!
…Nhờ “măng” nhóm tôi quen H., anh mồ côi nhưng được “măng” cưu mang từ nhỏ. Với anh Eugène không chỉ là mẹ nuôi mà là “măng” thực sự!

H. cũng là một khán giả mê kịch như Eugène. Thì giờ của một doanh nhân như anh vô cùng hiếm hoi, nhưng hễ biết nhóm chúng tôi có ý định ghé thăm, tức khắc anh bỏ hết công việc, tổ chức tiếp đón một cách chu đáo.

Nhà H. là một villa mới nhưng xây theo kiểu Pháp xưa, có hồ bơi, có sân vườn, có những lối đi thơ mộng. Sứ trắng là loại cây lớn duy nhất được trồng nên khi hoa rụng, chúng không chỉ tạo hương thơm mà còn vẻ nên những vòng tròn trắng trên bãi cỏ xanh mượt, mênh mông.
Nếu không mưa, tiệc thường tổ chức ngoài vườn để mọi người có thể thoải mái và thư giãn, sau đó vào trong nhà hát hò tới tận đêm khuya.

H. dành hẳn một gian lớn làm phòng chiếu phim với nhiều thiết bị tân kỳ cùng một quầy bar sang trọng nhằm tạo sự thoải mái tối đa mỗi khi thưởng thức nghệ thuật. Có điều hơi tiếc là sau lần chiếu phim khai trương, tụi tôi chưa có dịp hưởng lại cảm giác xa hoa này vì nhà H. khá xa, mỗi lần gom được ngần này con người là cả công trình, xúm lại “nhiều chuyện” thì khoái hơn là ngồi im lặng coi phim.

H. vào thành phố khá sớm, tối mịt mới về, công việc hành ngày của anh là vậy. Đứa con duy nhất của anh ít dịp gặp cha dù ở chung nhà, nó càng ngày càng mập ủn vì mấy cô giúp việc thấy chủ ít về đâm ra làm biếng nấu cơm, cứ thồn cho con bé trường kỳ cơm hộp. (Trong khi chúng càng ngày càng thon thả, “tóc dài, da trắng” nhờ máy dàn massage xịn, nhờ không khí cỏ cây trong lành, nhờ hồ bơi ít người sử dụng và phòng chiếu phim gần như bỏ trống.)

Hôm trước, lén nghe mấy cô này thì thầm, rúc rích với nhau, bọn tôi loáng thoáng biết được rằng trong số họ có người tập tành viết blog kể về hậu trường những người nổi tiếng. Không tiện và cũng không nên kể cho H. biết chuyện này, nhưng tụi tôi tò mò, chắc phải tìm một cách nào đó moi cho ra địa chỉ blog ấy để vào coi họ viết gì và biết đâu trong đó có những chuyện “trà dư tửu hậu” của đám nghệ sĩ chúng tôi?!!!

…Trong giới nghệ sĩ, chị C. nổi tiếng với nhiều công trình từ thiện. Chị làm chuyện này cũng “tuyệt” y như chị hát trên sân khấu.

Hôm khánh thành phòng học vi tính dành cho các cháu mồ côi, khuyết tật, chúng tôi có lên chia vui cùng chị. Mọi người thán phục không hiểu cách nào mà bà chị của mình lại có thể gom góp và xây dựng được một công trình lớn lao như thế với dãy nhà sạch mát cùng mấy chục bộ vi tính – dù “xây-cần-hen” – nhưng vẫn đáp ứng mọi yêu cầu học và làm của các em nhỏ.

Chị khoe chiếc máy đặc biệt được cài đặt riêng cho một cháu nhỏ không có tay, có thể dùng chân điều khiển được con chuột và gõ bàn phiếm.

Với lớp học mới này các em ở đây quá đỗi vui mừng, nó thật sự là một cửa ngõ giúp các em tự tin hơn khi tiếp cận được văn minh nhân loại.

Tôi lang thang ra sân, cạnh đó có dãy nhà đang xây gần xong giông giống như lớp vi tính bên này. Tôi đứng lại ngắm nhìn và tự hỏi họ sẽ chuẩn bị lớp gì ở khu nhà mới. Như đọc được ý nghĩ, chị C. đứng sau tôi hồi nào không biết:
-Đây sẽ là lớp thêu. Có bà bán vé số bảy chục tuổi, tên gì thì chị quên rồi. Tội nghiệp bả lắm, bả bán căn nhà đang ở và gom hết số tiền dành dụm được 70 cây vàng, bả tặng hội từ thiện hết để xây dãy nhà này.
Tôi sửng sốt:
-Còn bả ở đâu?
-Bả vô chùa, bả nói rằng bả hổng con hổng cái, đời bả yên rồi, bả muốn mấy nhỏ tật nguyền có chỗ ăn chỗ ở… Bả người dân tộc, nói chuyện khô khốc, chẳng đầu chẳng đũa…!

Tôi lặng nhìn ngôi nhà đang dần hoàn thiện. Nó sẽ đẹp, sẽ tinh tươm như dãy nhà mà chị C. bỏ hết công sức vun đắp.

Thêm một mái ấm nữa cho các cháu bất hạnh, một mái ấm thực sự từ một người nghèo khó, thô kệch, vụng về nhưng lại là một “bồ tát” sống giữa đời thường…

Xưng cha–con với T. hơi bị ngượng miệng vì ông là một linh mục còn quá trẻ, thế nhưng thay bằng một danh xưng khác e rằng thiếu đi sự kính trọng mà tôi muốn dành cho ông. Với tôi, ông cũng giống vị bồ tát đã cho hết tài sản của mình để những người khốn khó được hạnh phúc hơn.
Cha T. nuôi dạy hơn 60 trẻ nhỏ bị nhiễm HIV, có em bị lây từ cha mẹ đã chết, có đứa bị bỏ rơi từ thuở lọt lòng, có cháu là con nuôi ai đó, sống yên vui trong gia đình mới nhưng khi lớn lên gặp sự cố, đi khám mới phát hiện ra… Mỗi đứa nhỏ là một bi kịch lớn!

Đứa trẻ đầu tiên nhiễm bệnh đến với “cha” từ chuyện tình cờ, đứa thứ hai cũng thế, rồi đứa thứ ba, thứ tư… Anh thanh niên trẻ măng thiếu kinh nghiệm đời lại mang một “thiên mệnh” to lớn đã hốt hoảng chạy vạy khắp nơi, xoay sở mọi cách, mong tìm cách nào lo được cho những sinh linh bé bỏng này.

Nỗ lực của anh đã có lời đáp lại. Các nhà hảo tâm từ nhiều nơi đã gom góp và xây dựng được một mái ấm tuy đầy thiếu thốn nhưng phần nào tạo được nền tảng cơ bản để việc chăm sóc các cháu thuận tiện hơn.

Chuyện “tiền nong” tưởng là nan giải, hóa ra không phải là điều căng thẳng nhất. Mái ấm của cha T. bị áp lực từ những hàng xóm chung quanh, nghe tới “ẾT” họ sợ. Vượt qua “thử thách” này chẳng dễ dàng gì!

Nhưng điều buồn nhất không phải từ sự kỳ thị của những người xung quanh mà chính là “hộ khẩu hợp pháp” của chúng. Những đứa bé bên lề cuộc đời chưa đủ “tư cách pháp nhân” tồn tại nơi đây. Quả là cõi tạm, chúng đến rồi “đi” như không khí vô hình!
Mỗi khi có bé nào trở cơn bệnh nặng, cha T. cùng các sơ vội vã chuyển ngay chúng vào bệnh viện gần nhất mong kịp cơ hội làm giấy khai tử!...
Dù đã được mang tên “mái ấm” nhưng hóa ra ngôi nhà nhỏ bé này chỉ “ấm” một nửa, nghĩa là đủ cho các cháu “tạm trú” những ngày cuối đời, phần còn lại e rằng phải tiếp tục lang thang trên một cõi khác!
Cha T. gọi đó là những linh hồn bị thương tổn!...

Mấy đứa nhỏ được quà Noel, chúng vui mừng mở ra và reo lên khi thấy món mà chúng mơ ước. Thằng bé nhỏ nhất, gầy còm có đôi mắt đẹp không vội mở quà, nó đến bên hang đá, bắt chước chấp tay giống bức tượng Ba Vua, mắt nó long lanh nhờ ánh sáng chớp tắt của mấy bóng đèn trang trí. Nó cười tươi.

Sinh ra trong sự nghèo khó tột cùng, dù là hang đá, Chúa Hài Đồng vẫn hồng hào ngời sáng nằm yên trong máng cỏ dầy êm, ấm áp…
Bên ngoài trời rét gió đông…


Đoàn Khoa
Tháng 12-2010

*“măng” từ maman (tiếng Pháp) nghĩa là mẹ

Jan 12, 2011

BỨC TRANH THỨ NĂM “MỤC NGƯU” (CHĂN TRÂU) - Thích Phước Tịnh



Bài thơ chữ Hán:

Tiên sách thời thời bất ly thân
Khủng y tung bộ nhập ai trần
Tương tương mục đắc thuần hoà giả
Cơ toả vô ức tự trục nhân

“Tiên” là roi, “sách” là dây. “Thời thời bất ly thân” là không lúc nào rời tay cả. “Khủng y túng bộ nhập ai trần” là chúng ta sợ con trâu rong ruổi vào chốn bụi trần. “Tương tương mục đắc thuần hoà giả” là chúng ta chăm sóc con trâu cho đến lúc nó thật là thuần. “Cơ toả vô ức tự trục nhân” nghĩa là khi ấy chúng ta không cần dung roi, dây nhưng trâu vẫn tự theo bên sau chúng ta.
Đại ý của bài thơ là chúng ta luôn phải cầm dây, dùng roi, coi chừng con trâu của tâm thức. Chúng ta chăm sóc như thế cho đến khi thân đi đâu, tâm theo đó; đi đứng nằm ngồi luôn có sự nhận biết. Khi ấy chúng ta – những người chăn trâu – mới thư thả.

Bài dịch của Tuệ Sỹ:
Dây roi mang sẵn kè kè.
Sợ mi tung gió theo bè trần ai.

Bao giờ thuần tánh hăng say,
Roi vàng vứt bỏ mà mày vẫn ngoan.


Nhìn vào bức tranh, chúng ta thấy chú mục đồng đi phía trước, trâu theo phía sau. Trâu không còn hung hăng, xổng chân chạy đâu cả. Trong giai đoạn thiền tập này, chúng ta tương đối ít nhiều thuần hoá được con trâu của chúng ta. Tuy nhiên, nếu không cầm roi, nắm dây, trâu vẫn đi lang thang ra chỗ khác.

Thí dụ khi chúng ta ngồi thiền, thỉnh thoảng “tâm” của chúng ta cũng “xổng chuồng” chạy đi chơi. Nhưng vì đã đạt đến trình độ khá trong tu tập, chúng ta dễ dàng kéo tâm trở về. Hoặc dù mình thả rong tâm thức, nhưng khi nghe tiếng chuông , chúng ta liền đem tâm về lại thân. Trong giai đoạn này, chúng ta biết cách chăn trâu - mục ngưu - khi thiền tập.

“Mục ngưu” chính là chăm sóc đời sống thân tâm của chúng ta. Nói cách khác, “mục ngưu” là làm thế nào mời sự thực tập đến với mình trong từng phút, từng giây qua bốn oai nghi của chúng ta. Nếu chưa làm được điều này, chúng ta lao xao đến đạo tràng này, đạo tràng nọ chỉ để có bạn hàn huyên, làm thành một tập thể đua chen trong lợi danh, hoặc làm cái đuôi của những vị Thầy.

Điều đầu tiên là làm sao chúng ta khởi phát được trong tâm thức niềm đam mê rất lớn. Điều kiện này làm thành bao nhiêu thành công trong nhân gian. Ví dụ một người nào đó không mê học, họ không thể học giỏi được. Một người không mê tiền, không thể thành nhà kinh doanh giỏi. Một nhà khoa học nếu không có niềm đam mê khoa học, không thể hoàn thành công trình nghiên cứu của mình. Trong các lãnh vực âm nhạc, hội hoạ, thi ca v.v.. lãnh vực nào cũng thế, luôn đòi hỏi sự đam mê lên đến tột cùng.

Điều thứ hai là sự kiên trì trong thực tập. Đức Thế Tôn dạy chúng ta tu mỗi ngày chuyên cần như ngày đầu mới tu. Sự tu tập giỏi nhất là sự tu tập đều, không bao giờ dừng. Do vậy sự kiên trì thực tập không hạn định. Ví dụ ngày Triều Châu – một thiền sư nổi tiếng ngày xưa ở Trung Hoa, Ngài ngộ đạo lúc 30 tuổi, đã biết được thế nào là tâm sinh diệt của mình. Thế mà vẫn tiếp tục đi tham vấn đạo tràng này, đạo tràng nọ, đến 30 năm sau ông mới cảm thấy tâm an. Vì thế công trình thực tập được đánh giá một đời người. Có nhiều người sau một đời vẫn chưa xong việc.

Điều thứ ba là biết rõ thực tập ngay nơi thân. Nếu không làm chủ được thân, chúng ta sẽ không làm chủ được cảm thọ, tâm hành – nằm sâu bên trong, khó nắm bắt. Bước những bước chân vô hồn, ăn một cách vội vã, nhìn ngắm bâng quơ. Như vậy, tâm chưa thật sự có mặt ngay nơi thân. Giờ nào cũng thực tập tu học, tức khắc chúng ta nếm được niềm hạnh phúc mà ở nhân gian, có tiền cũng không mua được. Đó là sự an bình, vững chãi nơi tự thân của chính ta.


Trích "Về Nguồn 3" - www.matthuongnhindoi.com

Jan 8, 2011

Assigment of unassisted Self Portraits






BỨC TRANH THỨ TƯ “ĐẮC NGƯU” (BẮT ĐƯỢC TRÂU) - Thích Phước Tịnh


Bức tranh này chỉ thuần một con trâu, không có cành lá rườm rà. Kế đến, ta thấy con trâu đang co giò lên chạy. Chú mục đồng đi sau lưng trâu, không nắm dắt nó được. Trâu chạy trước, lôi chú mục đồng chạy theo sau. Đây là biểu tượng của chúng ta. Có những cơn giận, nỗi buồn, sự lo lắng hay bất an tràn ngập tâm thức mình. Mình muốn chận đầu nó để nó dừng lại, nhưng nó không dừng. Nó luôn đi trước và lôi mình theo sau. Bao giờ nó dừng, ta mới bớt lo lắng và chịu nghỉ ngơi. Tâm thức của ta rất rừng rú, như con trâu hoang này.

Bài thơ chữ Hán:

Kiệt tận thần thông bạch đắc cừ
Tâm cường, lực tráng tốt nan cừ
Hữu thời trực đáo cao nguyên thượng
Hựu nhập yên vân thâm xứ cư

“Kiệt tận thần thông bạch đắc cừ” nghĩa là dùng hết sức lực của mình ra chỉ mới chộp được
“Tâm cường, lực tráng tốt nan cừ” nghĩa là con trâu rất hung bạo, sức rất mạnh, nó lôi mình đi, mình không làm gì khống chế lại được.
“Hữu thời trực đáo cao nguyên thượng” nghĩa là có lúc trâu leo lên đồi cao.
“Hựu nhập yên vân thâm xứ cư” nghĩa là có lúc nó nhảy lên mây.

Bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ:

Trăm đường mới chộp được mi,
Tánh hung, sức bạo, làm chi được nào.
Đôi khi nhảy đến đồi cao,
Lại trong may nổi, dạt dào buông lung.

Khi cơn giận đến với mình, mình biến mất trong cơn giận. Mình thấy chính mình là cục lửa giận đang lên cuồn cuộn, hoặc cơn giận lôi mình tới đâu, mình đi tới ấy. Đến chừng cơn giận ra đi, lòng ta dịu mát lại, ta hối hận tại sao lại để cơn giận tan phá mình rất lâu. Lúc ấy mình chỉ thấy được đuôi của nó, hoặc khéo điều phục lắm, mình chỉ mới đi được sau lưng của nó thôi. Đó là tình trạng của chúng ta, chưa khéo điều phục tâm.

Chúng ta nên có quan niệm: tu như chơi. Thường thì những lúc mình cực nhọc với nó, lúc ấy mình thất bại nhất. Lúc mình thanh thản, nhẹ nhàng, buông lỏng, lúc ấy mình “chăn trâu” giỏi nhất.

Có hai trạng thái khi tu chúng ta nên tránh, đó là trạng thái buông trôi và trạng thái căng thẳng. Loại trừ hai trạng thái này, còn lại trạng thái nhẹ nhàng, tĩnh tại. Lúc ấy là lúc ta có thể dụng công, rất thuận lợi.

Điều đầu tiên về cách dụng công, mình cần loại trừ hai trạng thái căng thẳng và buông lơi. Căng thẳng dẫn đến bịnh cho thân và khi ấy sẽ cảm thấy đầu rất nặng. Buông trôi làm ta phí cả một đời, không làm được chi cả.

Điều thứ hai là chỉ dụng công khi lòng ta không bồn chồn, lo âu v.v... Ta phải làm sao quân bình thân tâm: không căng thẳng, cũng không buông lơi. Trạng thái đúng nhất khi thiền tập là từ lúc ngồi đến lúc xả thiền, chúng ta an tường, tĩnh tại trong sự nhận biết sáng ngời có mặt liên tục.

Điều cuối cùng là mình phải từ bi với chính mình. Chúng ta đã trải qua ngàn vạn kiếp tử sinh mới có được hình hài này. Huyệt mồ đang chờ đợi ta. Ấy vậy mà mình không biết trân quý đời sống của mình. Hãy nhớ trong hình hài năm uẩn này có Đức Phật đang ngự. Quay về được an trú ngay nơi Đức Phật bất động này, tu là một niềm vui.

Trích "Về Nguồn 2" - www.matthuongnhindoi.com

Jan 2, 2011

My pledge for 2011


My pledge for 2011 - you can see above:
I will use my phone a lot less!
:) :) :)

Photo - AS

ABBA và bài hát Happy New Year - ANH QUÂN

Lời chúc mừng Năm Mới – 2011 với bài Happy New Year của ban nhạc ABBA trên Facebook của Minh Trang, gợi lại cho Quân về ban nhạc Thụy Điển mà nhiều năm Quân đã yêu thích và đến giờ vẫn còn thích. Cho dù nhiều người Anh hay những người châu âu, Quân từng gặp qua thì họ luôn cho đây là loại nhạc cho các em tuổi Teen từ giửa thập niên 70 cho đến đầu 80. Thật ra họ đâu biết những người châu á họ thích nghe ABBA là vì thể điệu nhạc Pop, Europop và Disco gần gũi với với họ và nhất là ban nhạc hát tiếng Anh dể nghe và dể học theo.

Quân biết được ABBA vào mùa hè 1979, lúc đó mới qua Anh, trong trại tạm cư họ hay tổ chức các buổi tối nhảy nhót, thời đó người ta hay gọi đi nhảy Disco. Còn thanh nam, thanh nữ Việt Nam sau 4 năm sống cách biệt với thế giới tự do, trở thành lạc hậu nên khi tham dự vẫn còn theo kiểu Hippy Ago go, tóc dài, quần ống loe, áo sơ mi cổ bự và mang giày boot. Những y phục đó trở thành lỗi thời, vì tuổi trẻ tây phương đã quay lại quần ống túm, áo sơ mi cổ nhỏ, ca ra vát cũng nhỏ luôn, tóc thì cắt ngắn đi, phủ nửa lỗ tai , để dài phía sau và lỗ tai bắt đầu đeo khuyên. Nhưng dân Việt Nam đâu cần biết vì trong trại là phe ta không cứ nhảy cho đã thì thôi vì mới được tự do mà.

Bài “Gime Gime a man after midnight” là bài đầu tiên của ABBA mà Quân được nghe, thật ra ai cũng biết họ sau khi ban nhạc thắng giải truyền hình đại hội nhạc châu âu năm 1974 với bài Warterloo. Ca sĩ Khánh Hà cũng đã từng hát qua có lẽ theo thể điệu “Glam rock” do vậy bài này không thích hợp với dân Việt, nên không ai nhắc đến. Từ đó ban nhạc ABBA thành công với các bài hát như “Dancing Queen”, “Knowing me, Knowing You”, “SOS”, “Fernando”.... đây có lẽ một ban nhạc duy nhất thành công từ khi thắng giải thi nhạc châu âu cho đến lúc nổi tiếng luôn. Vì chưa có ban nhạc nào sau khi thắng giải nhạc châu âu trở thành nổi tiếng cả.

Nhất là ban nhạc người Thụy Điển khi qua hát tiếng Anh rất là khó vì dân Anh và dân Mỹ vô cùng khó tính trong việc nghe nhạc vì khi hát mà phát âm không được 100% giọng Anh hay Mỹ khó mà được nổi tiếng. Các thành viên ABBA đã khổ công rất nhiều để luyện tập hát cho được giọng Anh. Nhờ đó ABBA trở thành ban nhạc đầu tiên và có lẽ cho đến giờ là ban nhạc hay nhất của nước ngoài mà là mưa làm gió trong làng âm nhạc Anh, Mỹ và các quốc gia chuyên nói tiếng Anh như Uc, Ai Nhỉ Lan Tân tây Lan....

Tuy là ban đầu thắng giải Eurovision song contest vậy mà Abba chưa thành công bán đĩa nhạc tại Mỹ vào thời gian năm 74-75. Họ cũng gặp những thất bại như các chuyến lưu diễn xuyên Châu âu vào cuối năm 1974 tại Đan Mạch, Tây Đức và đi qua Uc. Họ không nản chí tiếp tục tung ra đĩa với bài hát “So Long” nhưng bài này thành công tại Châu âu và Uc. Có lẽ một ban nhạc thật sự muốn nổi tiếng, để trở thành thái sơn bắc đẩu trong làng âm nhạc là phải thành công trong chương trình “Top of the Pop” của Anh và xếp hang số lượng đĩa bán nhiều nhất trong Billboard của Mỹ.
Tiếp theo là bài I do I do I do I do nhưng cũng vẫn ăn khách tại Châu âu mà thôi, còn tại Anh và Mỹ vẫn còn xa tít mù khơi. Cho đến bài SOS là vào top 10 tại Anh nhưng vẫn còn chìm tại Hoa Kỳ, có đều đây không phải là dấu hiệu đen tối mà bắt đầu sự thành công của ABBA tại Anh, tiếp theo là bài Mama mia chiếm hang nhất tại Anh và nhiều nước tại châu âu. Thế là các thành viên của Abba bắt đầu nở nụ cười trên môi.

Cuối năm 1975 Abba bắt đầu đạt tới đỉnh danh vọng, nhờ tung ra thị trường đĩa Album Abba Greatest hits, trong đó có bài Fernando , đây một bài thành công tại Châu âu nhất là tại Úc vì lúc đó bài Hey Jude của ban nhạc Beatles chiếm kỷ lục tại Uc là đứng nhất lien tục trong vòng 13 tuần, thế mà bài Fernando chiếm tới 14 tuần. Đĩa Album này chưa chiếm hạng nhất tại Hoa Kỳ, phải nói là ABBA vẫn chưa có duyên tại đất Mỹ. Cho dù Album kế tiếp của ABBA là Arrival, đạt hạng nhất tại Châu âu mà chỉ vào được top 20 ở hot billboard của Mỹ , nhưng phải nói đây là Album đầu tiên mà ABBA được hang cao nhất tại Mỹ. Trong Arrival Album thì có những bài rất quen thuộc đối với dân Việt Nam ta là Knowing Me, Knowing You, Money Money và Dancing Queen. Bài Dancing Queen được xếp hạng 171 trong danh sách 500 bài hát hay nhất của mọi thời đại.

Đài truyền hình VTV của Việt Nam đã nhiều lần phát cuộn phim tài liệu đầu tiên của ABBA là ABBA – The Movie ở Uc vào năm 1977. Đây phải nói là thời kỳ vàng son nhất của ABBA. Vào tháng Giêng 1977, họ bắt đầu đi trình diễn tại Tây âu và sau đó đi Uc. Khi đến London, quá nhiều người muốn đi xem, nên ban tổ chức chỉ dám bán vé qua bưu điện, ai gời thư đặt hang sớm thì có vé. Sau đó được biết tối 3 triệu rưởi người gởi thư tới đặt thì như vậy hí viện Royal Albert Hall nơi ABBA trình diễn, nếu mà muốn hết 3 triệu rưởi người xem thì phải trình diễn hết 588 lần.
Qua tới Uc vào tháng 3 năm 1977, ABBA đã có chương trình là 11 buổi trình diễn, tại các thành phố lớn như Sydney, Melbourn, Adelaide và cả Thủ Tướng Úc là ông Malcolm Fraser cũng đi xem. Tính ta là 160 ngàn người tại Úc đi xem ABBA.

Vào giữa tháng giêng năm 1979, hai thành viên của ABBA là Ulvaeus và Fältskog tuyên bố ly dị . Đây là một thong tin làm cho giới báo chí bắt đầu rùm ben. Nhưng ban nhạc tuyên bố vẫn hát bình thường, chuyện tư không ảnh hưởng chuyện công.

Đến tháng 9 năm 1979, ban nhạc lần đầu tiên đi đến Bắc Mỹ, một cuộc trình diễn đầu tiên cũng là lần cuối cùng. Đầu tiên ở Northlands Coliseum tại Edmonton, Canada, 14 ngàn người tới xem, sau đó qua New York, Boston và trạm lưu diễn cuối cùng tại Bắc Mỹ là Toronto Canada ở Maple Leaf Gardens.

Sau đó ABBA trở lại Châu âu và thêm một lần lưu diễn ở London.

Năm 1980, ABBA bắt đầu cho thấy dấu hiệu rạn nứt. Chuyến lưu diễn cuối cùng của họ vào tháng 3 tại Nhật Bản. Họ cho ra đĩa Album thứ 7 của họ là Super Trouper. Trong đó có bài nổi tiếng nhất là “The Winner takes it all”. Các lời hát trong Album này diễn tả tâm trạng cá nhân và sử dụng nhạc khí synthesizers.

Trong Album này có bài Happy New Year, tuy là tựa đề nói là Chúc Mừng Năm Mới, mà lời nhạc vô cùng buồn bả , ảm đạm , xa cách, biệt ly....chẳng hạn là

No more champagne
And the fireworks are through
Here we are, me and you
Feeling lost and feeling blue
It's the end of the party
And the morning seems so grey

Mà cái clip phim này là do hai nhân vật tuyên bố ly hôn trình diễn thì vô cùng thê lương, nếu mà kêu chúc mừng năm mới thì nghe ưu sầu quá. Kể ra cũng lạ, các nhạc sĩ tây phương sang tác nhạc chúc mừng năm mới rất là ít, trong khi đó nhạc chúc Giáng Sinh tràn đầy mà nghe sống động, ngoại trừ bài “White Christmas” thì dân Sài Gòn trước tháng 4 năm 1975 chẳng khoái tí nào, vì lúc đó quân đội miền Bắc sắp vào đến Sài Gòn. Đài phát thanh Mỹ bỏ của chạy lấy người thì họ phát bài White Christmas lien tục không nghĩ vào giai đoạn đó.

Ngoài bài Happy New Year của ABBA thì ban nhạc U2 có bài “A New Year Day”, ráng suy nghĩ thêm thì Quân vẫn chưa tìm được bài mừng năm mới nào cả.

Vào đêm 31 tháng 12 rồi, Quân cùng gia đình đi rat trung tâm London xem đốt pháo bông, đài Radio1 liên tục phát các bài hát đầu năm cho mọi người để chờ đợi thời điểm bước qua năm mới. Không biết bao nhiêu bài hát, có cả bài “Oh girls, they want to have fun”, “More than a feeling”, “With a little help from my friend”... vậy mà không có bài “Happy New Year” của ABBA. Nhiều năm sống tại London , Quân đi ra chỗ công cộng trước thiềm năm mới mà chưa vẫn bao giờ thấy ai phát bài hát này cả. Có lẽ vì nguyên nhân là lời hát mang quá nhiều tính cách cá nhân của hai thành viên của ABBA, nên vậy không được thong dụng tại bên Anh.

Sự tan rã của ABBA vào năm 1982, bài “One of Us” trong Album Visitors thật sự cho thấy không còn thể ngồi gần với nhau nữa. Mọi thành viên ABBA nên đi tìm một hướng đi mới và từ đó trở đi không còn thấy họ trên sân khấu nữa. It nhiều ai cũng mang một luyến tiếc khi biết thật sự là ABBA không còn nữa.....

ANH QUÂN