Oct 12, 2025

MÌNH LẠI SOI MÌNH (Tưởng nhớ bác DOÃN QUỐC SỸ) - Đoàn Khoa

Từ vài hôm trước, Doãn Vinh đã thông báo rằng sẽ phải thu xếp về Mỹ gấp vì ÔNG yếu lắm.

Tin này không mới và tôi cũng chẳng ngạc nhiên, thế nhưng trong tôi vẫn cảm thấy một nỗi xao xuyến lạ lùng.

Trước tình cảnh đó, Vinh lại “an ủi” ngược:

-Ông cụ trên trăm tuổi rồi - lẽ thường thôi!

Đành biết là như vậy, nhưng cái điều sẽ đến ấy đồng nghĩa với một thứ gì đó hết sức mơ hồ nhưng rất quý giá sẽ biến mất trên cõi đời này.

Lần đầu tiên tôi gặp ÔNG SỸ cũng là ngày mà Doãn Gia tổ chức “sự kiện” mừng ông “về nhà” sau nhiều năm “học tập”.

Trước đây, tôi không hề quen với gia đình này, chỉ biết chi tiết duy nhất rằng con của ông là Doãn Quốc Hưng, học cùng khóa với tôi suốt từ năm lớp 6 cho tới lớp 12 tại trường Pétrus Ký (sau đó đổi thành Lê Hồng Phong)

Tôi chưa hề có một cuộc gặp gỡ hay nói chuyện gì với Doãn Quốc Hưng trong suốt ngần ấy năm học do định kiến rằng “thằng này” vô cùng kiêu hãnh vì nó là con ÔNG SỸ.

Ác cảm trên không phải là vô căn cứ - ngoài chuyện “thằng Hưng” là con nhà văn nổi tiếng trước 75 và là nhân vật “có vấn đề” trong chế độ mới - việc mời Hưng tham gia các hoạt động văn nghệ trong trường, mà cụ thể là tham gia vào đội múa rối của tôi là điều “bất khả thi” mặc dù nhóm tôi rất cần một tay guitar nhậy bén như Hưng.

Định kiến kỳ cục trên bị xóa ngay lập tức khi tôi may mắn đến với gia đình này. “Thằng Hưng” lúc đó (và mãi về sau) không hề “chảnh chọe” như tôi nghĩ mà ngược lại, rất cởi mở và khả ái vô cùng!

Trong hồi ký của mình, tôi đã tả lại khá chi tiết về “sự kiện” độc đáo này, ở đây tôi chỉ xin tóm tắt vài ý chính.

Do tò mò về lớp dạy cắm hoa của một chị bạn - mà theo tôi là “bịp bợm” - vì trong những năm 80 đói kém ấy, không thể có được những hoạt động “xa xỉ” như thế cho nên tôi đã đi theo và quan sát chị ấy suốt một lộ trình từ quá trình cắt xén cỏ cây đến cách mà chị hướng dẫn học trò.

Nơi mà bạn tôi và đám học trò của chị trổ tài lại chính là nhà của ông Doãn Quốc Sỹ và tại đây mọi người đang tổ chức “sự kiện” mừng ngày ÔNG SỸ “về nhà” sau nhiều năm “học tập”.

Vào thời điểm ấy, tôi đang học khoa đạo diễn trường Nghệ Thuật Sân Khấu, đã từng đến thực tập tại các đoàn hát và gặp rất nhiều những nghệ sỹ nổi tiếng đương thời… vậy mà tôi dã “cứng đờ” khi được dự đêm văn nghệ “cây nhà lá vướn” của DOÃN GIA.

Không biết đêm ấy là “nguyệt rằm” hay “cúp điện”, ánh sáng chập choạng nhưng lung linh từ cây đèn dầu và các ngọn nến đã làm cho “buổi tiệc” tuy nghèo về thức ăn (chủ yếu là đâu phộng) nhưng lại giàu về nghệ thuật với những bình hoa tuyệt mỹ - hoàn toàn được cắt tỉa từ cây cỏ dại bên đường - cùng những tiết mục văn nghệ của các thành viên trong gia đình và thân hữu. Tuy là “nghiệp dư” nhưng các tiết mục này lại truyền cảm và xúc động vô song. Chưa bao giờ tôi được dự một đêm văn nghệ nào ngoạn mục và đậm đà chất Việt như đêm hôm ấy…

Nhiều năm sau - khi thân với cả gia đình - tôi luôn nhắc về cái đêm kỷ niệm ấy rằng:

-Dù quá mõi và tê nhưng em không dám duỗi thẳng chân ra bởi chương trình văn nghệ quá hay, sợ ảnh hưởng tới mấy người đang ngồi chật cứng bên cạnh… và hơn thế, ngay lúc đó, chợt thấy tia mắt khó đăm đăm của Doãn Quốc Vinh đang “lướt ngang” mọi người.

Tôi cũng không ngại ngùng khi nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng:

-Nếu không dự được đêm đó để có cơ hội làm quen và sau là thân thiết với DOÃN GIA thì em cũng sẽ nổi tiếng trong nghề nghiệp của mình, nhưng hình ảnh đó chắc chắn sẽ không giống như em hiện tại!

Nghĩ cũng thật lạ, giữa tôi và DOÃN GIA có một mối quan hệ không giống với bất cứ ai trên đời này. Tôi có thể “tự hào” khi nói rằng mình không chỉ “thân” với tất cả các anh chị em trong gia đình này mà còn thân cả dâu-rể cùng con cháu, lẫn bạn bè của họ.

Cám ơn toàn thể DOÃN GIA đã dành cho tôi sự ưu ái này!

Tôi có niềm đam mê đối với thơ ca từ những ngày còn niên thiếu và tôi vẫn giữ tình yêu đó đến tận hôm nay. Ngày trước, tôi hay chép các bài thơ tôi thích vào những cuốn sổ thật đẹp, bây giờ thì “làm biếng” hơn, chỉ ghi lại các câu thơ - chủ yếu của đại thi sĩ Bùi Giáng - thế nhưng thơ của ÔNG SỸ thì tôi không hề chép nhưng lại nhớ nằm lòng. Chúng làm tôi bị xáo động.

“Gương trong mình lại soi mình

Thấy tình thăm thẳm, thấy hình phù du…”

Trở lại với ÔNG SỸ. Tuy “thân” gần như “tuyệt đối” với từng cá thể trong gia đình độc đáo này, thế nhưng tôi cũng thật thà thú nhận với các con ông ấy rằng mình chưa - nói đúng hơn - tôi không dám đọc văn của ông, bởi ngay từ nhỏ tôi đã có một định kiến rằng truyện của ông rất khó đọc, nó quá cao siêu và triết lý, chưa kể những tầng ẩn ý phức tạp mà một đứa hời hợt như tôi khoái loại truyện “gay cấn” mà không cần động não nhiều.

…Mãi đến vài năm gần đây, nhờ internet, tình cờ tôi đọc được một vài truyện ngắn của ÔNG SỸ. Tôi thực sự bàng hoàng vì tính “hiện đại” trong từng tác phẩm mặc dù những điều ông viết đã có từ hơn nửa thế kỷ trước.

Lấy “Con Thuyền Ma” như một thí dụ, truyện ngắn ấy không chỉ lôi cuốn và hấp dẫn tôi về mặt tình tiết và nhịp độ phát triển câu chuyện, mà nó còn “lạ lùng” trong cấu trúc và bố cục đến nỗi tôi tự đặt ra câu hỏi rằng liệu các nhà văn trẻ hiện thời, mấy ai có được những thủ pháp “cách tân” tương tự như ÔNG đã làm từ trên nửa thế kỷ trước? (ấy là chưa kể nhiều tầng ẩn dụ - mà theo tôi - với trình độ của độc giả “đương đại”, họ sẽ khám phá một cách sâu sắc hơn những gì mà ÔNG “gửi gấm” so gười đọc thời xưa.)

Kể lại sự kiện trên, tôi bỗng cảm thấy hổ thẹn và có lỗi trước ÔNG cũng như với những thành viên trong Doãn Gia đã luôn trân quý tôi. Xin mọi người hãy lượng thứ!

Nói chưa hề đọc một cuốn gì của ÔNG thì không hoàn toàn chính xác - sau năm 75 - lúc tôi khoảng 14,15 tuổi, tôi được anh bạn lớn hơn đưa cuốn sách mỏng, đó là VÀO THIỀN của nhà văn Doãn Quốc Sỹ.

Tôi đã đọc cuốn này một mạch - hoàn toàn trót lọt - bởi xem đây như những chuyện ngụ ngôn, cổ tích.

Cho tới ngày nay, tôi hoàn toàn không nhớ gì về VÀO THIỀN của ÔNG SỸ trừ một mẫu ngụ ngôn nhỏ. Câu chuyện được tóm tắc như sau:

“Một người bị té xuống vực sâu nhưng may mắn cho anh ta khi tay anh níu được một nhánh cây chìa ra. Trong lúc bị treo lơ lững, trước mắt anh hiện ra một chùm trái anh đào chín mọng. Anh nói: ĐẸP QUÁ!”

Vì THIỀN thì “không giải thích” (theo “Lời Nói Đầu” của cuốn sách ấy) - với lứa tuổi 14, 15 - tôi hiểu đại khái rằng lúc khó khăn nhất mình vẫn nên “lạc quan” bởi thái độ đó “tốt hơn” là những ý nghĩ tiêu cực.

…Nhiều năm sau - khi đã từng nếm trải khá nhiều hương vị cuộc đời - tôi nhớ tới CHÙM ANH ĐÀO ngày trước và tôi thay đổi suy nghĩ.

Tôi cho rằng người đàn ông rơi xuống vực kia dù sao vẫn còn may mắn vì trong phút giây cận kề cái chết đó, ông ta đã thấy được TRÁI ANH ĐÀO, trong khi nhiều người trong chúng ta đang rơi “thẳng đứng” trong hoạn nạn và tuyệt vọng đã không thấy bất cứ loại trái cây gì dù còn xanh hay đã chín…

…Nhưng khi “có tuổi” hơn (như bây giờ hiện tại), tôi ngẫm lại chuyện xưa và “cảm” theo một hướng khác.

Tôi may mắn hơn anh chàng lơ lững ngày xưa. Ông ta chỉ thấy TRÁI ANH ĐÀO trước mặt còn tôi - tôi luôn có CHÙM ANH ĐÀO trong tim.

Những kỷ niệm đẹp, những tình yêu mà tôi đã trải qua, những nơi chốn mà tôi đã lui tới, những thành công trong nghề nghiệp và cả những thất bại cùng nỗi niềm mà tôi từng trải… đó là từng TRÁI ANH ĐÀO riêng biệt nhưng đã kết thành CHÙM ANH ĐÀO chín mọng mà tôi có thể mang theo mọi lúc mọi nơi…

Mỗi lần tôi khoe một niềm vui hay một công việc nào đó với các thành viên trong DOÃN GIA, tôi đều nói:

-Đây cũng là một trong những TRÁI ANH ĐÀO mà nhờ ÔNG SỸ, tôi thấy được…


Đoàn Khoa

15/10/2025 

TIỄN ÔNG - Cỏ May


 

BÁC DOÃN QUỐC SỸ - Đức Quân


Người Việt mình có một cách giới thiệu bạn bè nghe vừa vui vừa dễ thương , nhất là khi người bạn đó thuộc một gia đình có người nổi tiếng. Thay vì nói về chính người bạn, người ta lại thích giới thiệu : “Bạn tui đó, ba nó là ông…” hay “bà…” gì đó. Có khi còn kể thêm: “bác nó là… chú nó là…” cho đủ họ hàng, đủ mối dây thân quen.

Cô bạn Thanh Hương của tui, nếu bạn ta đi cùng nhóm gặp người quen mới, thì sẽ được giới thiệu: “ Đây là Hương , con gái út của nhà văn Doãn Quốc Sỹ .” Và thế là, câu chuyện bắt đầu xoay quanh bác Sỹ — những kỷ niệm, những tác phẩm năm nào… Còn cô bạn Thanh Hương của tui thì dần dần “bị biến mất” khỏi cuộc trò chuyện lúc nào không hay.

Tui nhớ thằng bạn Thái trong nhóm , khi còn ở Paris, có kể lại là lần đó bạn Hương sang thăm, Thái đưa Hương đi dạo thành phố, rồi ghé vào quận 13, vào nhà sách Nam Á. Vào trước năm 2000, sách Việt Nam vẫn còn bán chạy vì người đọc còn đông đảo. Thái trò chuyện với bà chủ tiệm, rồi giới thiệu Thanh Hương là ai, (như tui nói trên là Thái nó không giới thiệu về bạn tui mà giới thiệu đây là con gái nhà văn Doãn Quốc Sỹ) Bà chủ nghe xong liền nói:

“Bố của em để lại cho văn học và hậu thế Việt Nam bộ trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau là quá đủ rồi.”

Tui chợt nghĩ, có lẽ đó là một trong những lời khen giản dị nhưng sâu sắc nhất mà một người yêu văn chương có thể dành cho một nhà văn.

Vào thập niên 80 và 90 ở Anh quốc, số người đọc sách Việt rất đông. Những thư viện địa phương, nơi có nhiều người Việt định cư, đều mua sách tiếng Việt cho mượn , mà đa phần là của các tác giả miền Nam trước 1975 và sáng tác mới tại hải ngoại, như ở Mỹ hay Pháp. Thời gian đó tui còn là sinh viên, mỗi khi hè về, không có việc gì làm, tôi lại ra thư viện đọc sách Việt Nam.

Khoảng năm 1987, tui thấy một quyển sách mang tựa “Đi”, tác giả Hồ Khanh, do nhà xuất bản Lá Bối ở Paris in. Lúc đó, các nhà in bên Mỹ như Đại Nam rất là cẩu thả trong việc đóng gáy, họ dùng keo dán sơ sài, đọc lâu là từng trang “ra đi có trật tự ” theo đúng nghĩa. Một quyển 300 trang có khi chỉ còn lại 50. Ngược lại, nhà Lá Bối in ấn rất kỹ, bìa và ruột sách dính như keo sơn — thảy qua thảy lại vẫn còn nguyên vẹn.

Tui thấy tên tác giả lạ hoắc, lại do Lá Bối in, nên nghĩ chắc là sách liên quan Phật pháp. Quyển sách nhỏ, chừng 200 trang, không có lời giới thiệu, vào ngay câu chuyện. Tui đọc từng trang, từng chữ , văn phong giản dị mà cuốn hút, từ những chuyến vượt biên đến chuyện thăm nuôi. Đoạn tui nhớ nhất là có một nhân vật bay lên đá tên lưu manh, mà không biết đó là ai. Mãi sau năm 2000, tôi mới biết người “uýnh lộn trên xe lửa” , và rằng tác giả Hồ Khanh, hay Hành Khô, chính là nhà văn Doãn Quốc Sỹ.

Từ năm 2000 trở đi, người đọc sách tiếng Việt tại Anh ngày càng ít, các thư viện bắt đầu thải dần những quyển sách Việt, để ra ngoài bán với giá thật bèo . Tui chọn mua lại những quyển của các tác giả mình yêu quý, dù không có thời gian đọc hết, nên cứ để trong gara. Mãi đến những năm gần đây, khi dọn dẹp, tui mới thấy lại quyển “Người vái tứ phương”. Tui mở ra đọc thử, đọc một trang, rồi hai trang và cứ tiếp tục đọc, quên cả việc quét dọn vì bị cuốn vào cuộc tranh luận bói toán giữa nhân vật chính và người cán bộ cộng sản. Khi đọc xong, tui phải hỏi cô con gái út là bác Sỹ có biết xem tử vi không?

Được đọc nhiều tác phẩm của bác Doãn Quốc Sỹ là một may mắn vì được học hỏi nhiều điều. Nhưng tui chỉ có một dịp duy nhất gặp bác là vào mùa hè năm 2015 tại Hoa Kỳ . Tui đã nghĩ mình là lúc đó sẽ hỏi bác thật nhiều điều, nhưng rồi lại chẳng hỏi gì hết . Tui ngồi ngoài vườn, bác cũng ngồi và cần mẫn cắt những cây dại, bỏ vào thau rác. Tui chỉ hỏi có bác hai câu:

“Bác làm gì đó?”

Bác trả lời “Cắt mấy cây dại cho vườn sạch sẽ.”

Tui hỏi tiếp “Bác làm vậy có mệt không?”

Bác cười: “Làm cho hết thời gian thôi.”

Tui ngồi im, nhìn bác cắt cỏ dại suốt hơn 30 phút. Nghĩ mà lạ, mình đang ngồi trước một nhân vật lịch sử vậy không mà không hỏi chuyện gì hết , mà không hề hay rằng đó là lần gặp duy nhất với bác. Tui chụp vài tấm hình bác, nhưng chẳng tấm nào bác được xem qua.

Khi đăng hai tấm ảnh ấy lên Facebook, bạn bè để lại vài dòng bình luận nay xin trích lại

Lucia Phạm (bạn học Petrus Ký – nay ở Boston):

“Thích chiếc nhẫn cưới vàng 18 trên tay trái của Bác… một biểu hiện nghiêm cẩn và chuẩn mực cho thế hệ trẻ về lời hứa hẹn trăm năm với hôn nhân.”

Liên Doan (con gái bác Doãn Quốc Sỹ) trả lời:

“Ha haaa… cái nhẫn này là cái thứ hai, con cháu mua tặng ông bà năm nào đó khi về chơi Việt Nam! Ông đeo từ đó đến giờ, nói lên: một là ông chẳng để ý, hai là ông ngoan ngoãn với lũ con!”

Rồi chị nói thêm:

“Cả hai đều chứng tỏ tâm của ông rất an.”

Lucia Phạm lại nói:

“Liên Doan chứng tỏ tâm của Ông chỉ có Thê và Tử mà thôi…”

Lê Hải Nguyễn (bạn học Petrus Ký, nay ở Việt Nam) nói :

“Ôi, thời oanh liệt nay còn đâu! Thật khâm phục khi bác đã trải qua bao năm tháng bị bầm dập, vậy mà vẫn kiên cường sống đến hơn 90. Chắc nhờ cuối đời bác ‘phản bội nước XHCNVN’ đó. Chúc bác sống khỏe mạnh.”

Thời gian cứ trôi. Mỗi lần Hương gọi sang, lại nói:

“Nói nhanh nha, phải đưa Bố Sỹ đi bộ công viên,”

hoặc

“Bận thay đồ cho Bố Sỹ để đưa ra ngoài.”

Còn tui, mỗi khi có chuyện gì vui trên thế giới là lại nhắn cho Hương:

Năm 2023, tui nhắn tin “Công ty phim Disney 100 tuổi rồi đó, bằng tuổi với bác Sỹ! Mà chú chuột Mickey và vịt Donald còn kém bác mấy tuổi đó nha.”

Mỗi mùa World Cup hay Euro, tui lại dặn Hương:

“Nhớ bật tivi cho bác xem đá banh nha , để thấy cụ cao niên nhất Việt Nam vẫn còn yêu bóng đá. Bác chào đời trước cả World Cup 7 năm, bình thường một đời người xem được 20 lần giải World Cup là quá may mắn thế mà bác đã sống được 25 mùa giải túc cầu quốc tế rồi đó. Tui cứ nói với bạn Hương mong sao bác còn khỏe đến năm 2030 để đón World Cup 100 tuổi.”

Mấy ngày qua trên mạng xã hội ở hải ngoại và Facebook là rất nhiều người gởi lời chia buồn đến gia đình bác Sỹ , rất nhiều bài viết nói về bác , chẳng những thế có cả phỏng vấn trên Youtube và truyền thông hải ngoại nói về nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Chẳng những vậy ngay cá nhân tui, chỉ là người bạn mà cũng nhận tin nhắn là bác Sỹ đã qua đời và nhờ tui đi chia buồn với gia đình bác Sỹ.

Với tui Bác Doãn Quốc Sỹ để lại một di sản văn chương cho Việt Nam, bác không chỉ là một nhà văn lớn, mà còn là một biểu tượng của nhân cách, của sự điềm tĩnh, của “tâm an giữa bão đời”.

- Trần Đức Quân 

 

DOÃN QUỐC SỸ: NHÀ VĂN THẦN THOẠI - Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Từ thời say mê đọc sách trong các năm trung học, tôi đã nhìn thấy chung quanh mình như là mộtcõi phân đôi: thế giới thần thoại và thế giới đời thường. Cái nhìn đó vẫn theo tôi không rời, và tôi tin thật rằng các nhân vật trong truyện về các nàng Mị Nương, truyện Bích Câu Kỳ Ngộ của Việt Nam vẫn đang đi lại bên các vị thần của cổ tích Hy Lạp bên ngoài hiên nhà của tôi. Hễ tôi hé cửa nhìn ra là họ biến mất, nhưng khi khép cửa lại, tôi nghe được tiếng họ thì thầm như thúc giục tôi mở ra các trang sách để đọc về những cõi rất là thơ mộng.

Nhiều năm về sau, khi đọc nhiều hơn, tôi mới nhận ra rằng các trang sách của các nhà văn như Doãn Quốc Sỹ, Charles Perrault, Hans Christian Andersen, và Leo Tolstoy là những cánh cửa để tôi nhìn vào thế giới thần thoại, nơi rất nhiều nhân vật của họ là hiện thân của thơ mộng, yêu thương, và bất bạo động.

Các nhân vật của họ như dường không có thật. Nhưng khi nhà văn Doãn Quốc Sỹ, với nụ cười thơ mộng không bao giờ tắt, bước vào tòa soạn Việt Báo, thế giới đời thường của cực nhọc, của suy tính, của các bài bình luận nhức đầu về kinh tế, chính trị, xã hội đều tan biến trước mắt tôi. Thế giới thần thoại hiện ra, bay lơ lửng quanh tôi, theo chân nhà văn họ Doãn, bất kể rằng ông đã vào tuổi lãng đãng. Mà nói cho cùng, có nhà văn, nhà thơ chân thực nào mà không lãng đãng, không cách này thì cách kia.

Thường thì tôi lúng túng khi nói chuyện, vì luôn luôn có người theo nhà đi nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Tôi không giữ được cách xưng hô cho thống nhất. Tôi lại thân với bạn Doãn Quốc Hưng, người con trai thường dẫn nhà văn họ Doãn đi nơi này, nơi kia. Tôi hiếm khi nói trực tiếp với nhà văn họ Doãn, vì không biết nói gì với nụ cười rất mực Niết Bàn của cụ. Khi nói chuyện với mọi người, có khi tôi gọi nhà văn Doãn Quốc Sỹ là cụ Sỹ hay là bác Sỹ (khi nhớ rằng mình là bạn của Hưng), có khi gọi là anh Sỹ (khi nhớ rằng nhà thơ Trần Dạ Từ ở tù chung với nhà văn Doãn Quốc Sỹ nhiều năm), và gọi trang trọng là nhà văn khi ngồi viết tin. Và tôi nhận ra, nhà văn Doãn Quốc Sỹ là người của thần thoại, và là người viết cho nền văn học thần thoại. Chắc chắn, nhiều người cũng sẽ mơ hồ nhìn thấy như thế. Mỗi dân tộc sẽ có một người độc đáo như thế.

Trường hợp nước Pháp là nhà văn Charles Perrault (1628–1703), không chỉ kể chuyện cổ tích cho trẻ em, mà còn gieo vào lòng người lớn những hạt giống yêu thương, đức hạnh. Trong các tác phẩm như Cô bé Lọ Lem hay Người đẹp ngủ trong rừng, nhà văn đã thần thoại hóa thế giới đời thường. Perrault không ca ngợi chiến thắng bằng sức mạnh, mà bằng lòng kiên nhẫn và tình yêu thương.

Trường hợp Đan Mạch là nhà văn Hans Christian Andersen (1805–1875), nơi nhân vật nào cũng ngây thơ và trong sáng. Ông viết cho những người bé nhỏ trong xã hội—cô bé bán diêm, chú lính chì, con thiên nga trên hồ —những nhân vật chịu đau khổ nhưng không đánh mất lòng yêu thương. Truyện của Andersen thần thoại hóa thế giới chung quanh, biến chiếc que diêm, hay giọt nước mắt thành biểu tượng tình thương. Văn chương của ông là ánh sáng dịu dàng soi rọi vào cuộc đời, để chúng ta học cách yêu thương nhau hơn.

Trường hợp nước Nga là nhà văn Leo Tolstoy (1828–1910). Tolstoy không chỉ là tiểu thuyết gia vĩ đại, mà còn là nhà hiền triết của lòng từ bi và bất bạo động. Trong những truyện ngắn đạo đức như Ba câu hỏi (The Three Questions), hay tuyển tập truyện trẻ em ;The Lion and the Puppy: And Other Stories for Children", ông dùng ngôn ngữ giản dị để truyền tải thông điệp sâu sắc về sự yêu thương, tha thứ và sống vì người khác. Tolstoy tin rằng sự trong sáng của tâm hồn là con đường duy nhất để nhân loại vượt qua khổ đau. Ông phản đối chiến tranh, lên án bạo lực. Tolstoy viết không phải để giải trí, mà để thức tỉnh trái tim con người.

Trường hợp Việt Nam là nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025), người sống giữa rất nhiều môi trường bạo lực, từ chiến tranh cho tới nhà tù, nhưng ngòi bút vẫn hướng về một thế giới thần thoại trong đời thường, nơi các nhân vật là hiện thân rất mực trong sáng của tình yêu thương, lòng từ bi, sự hy sinh. Truyện của Doãn Quốc Sỹ phần lớn mang màu sắc u buồn nhưng thơ mộng, viết về đời thường mà y hệt truyện cổ tích. Và thực sự là họ Doãn đã kể chuyện thần thoại với tuyển tập “Thần Thoại: Nhật Bản - Đại Dương Châu - Hy Lạp - Bắc Âu” (NXB Sáng Tạo), nơi độc giả sẽ đi lạc vào thế giới hầu như ai cũng đi đứng nói cười với tâm trong sáng.

Có một yếu tố nữa. Khi vào đại học, tôi học ở Văn Khoa, không có cơ duyên học Vạn Hạnh. Không phải kỳ thị, mà chỉ vì nghe lời rủ của người bạn thân là nhà thơ Phan Nhật Tân. Nhìn lại, các vị thầy ở Đại Học Văn Khoa mà tôi học, như GS Nguyễn Văn Trung, GS Lê Tôn Nghiêm, GS Lê Xuân Khoa cho tôi đủ thứ lý luận phức tạp, bàn đủ thứ chuyện nhức đầu về chủ nghĩa hiện sinh của Jean-Paul Sartre hay Albert Camus... Đủ thứ “nghiêm và buồn.” Tôi không được học nhà văn Doãn Quốc Sỹ ở Văn Khoa, cho dù tôi còn nhớ là nơi nữ sinh viên nào cũng rất đẹp, và là nơi nam sinh viên nào cũng ưa nói về hiện tượng luận và lắm chuyện bí hiểm.

Trong khi đó, Đại Học Vạn Hạnh là một cõi rất thần thoại, rất thơ mộng, nơi của một cõi trời cao hơn các tầng mây của Thầy Minh Châu, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, Ni sư Trí Hải... nơi của thơ và thơ. Vạn Hạnh cũng là nơi của công án, nơi tôi vẫn mơ hồ nghĩ rằng, mình bước vào thăm ngôi trường đó, nói lạc một chút là sẽ bị một thiền sư nào đó đánh cho 30 gậy liền (thực tế, tôi chưa đọc bản tin nào kể chuyện tương tự như thế, chỉ là lúc đó tôi tưởng như các trang sách Lâm Tế Ngữ Lục là một cõi rất thực trong sân trường này). Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lúc đó cũng là một nhân vật trong cõi thần thoại Vạn Hạnh, đầy sương khói. Họ là thế giới rất là xa với tôi.

Chỉ tới nhiều thập niên sau, vào nghề báo ở hải ngoại, tôi mới thấy gần với tất cả các thế giới thần thoại trong cõi này, nơi đó có nhiều cơ duyên để tôi gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma, và nhiều vị khác. Thế rồi tôi đã gặp, đã nói chuyện, đã phỏng vấn, hay đã thân cận với rất nhiều văn nghệ sĩ, trong đó có Phạm Duy, Mai Thảo, Kiều Chinh, Ngô Thế Vinh, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Thảo Trường, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Phạm Công Thiện, Du Tử Lê, Nguyễn Đức Quang, Hoàng Quốc Bảo và nhiều vị khác nữa. Tôi cầm máy ảnh chạy theo họ và tôi viết tin về thế giới thần thoại của thiên đường văn học lưu vong này. Trong đó, nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một vị thần nổi bật: cụ lãng đãng như sương khói, khuôn mặt cụ ngây thơ như con nai ven rừng, và nụ cười của cụ làm tịch lặng tất cả mọi trầm tư của người đối diện.

Sau này đọc nhiều hơn, tôi nhận ra, nhiều nhà văn khác cũng nhìn về Doãn Quốc Sỹ như một nhân vật của cõi chư thần. Như trong tác phẩm Trái Cây Đau Khổ, một truyện-kịch của Doãn Quốc Sỹ ấn hành năm 1963, Lời mở đầu của Thanh Tâm Tuyền ghi rằng, trích: “...nhân vật của Doãn Quốc Sỹ là con người nắm chặt được hạnh phúc, bất chấp giao động tráo trở của Định Mệnh. Một nhà văn của cổ tích phương Đông! Bản chất không chấp nhận sự tàn nhẫn, anh viết kịch với những nhân vật hạnh phúc của anh. Và kịch trở thành thơ, một cuộc đối thoại triền miên, không dứt ngụp lặn trong thế giới của Thực và Mộng, quái gở và hồn hậu.

Những cái thực được coi là Mộng và Mộng hóa thành Thực. Kịch rốt cuộc chỉ là cổ tích và thần thoại. Khi Doãn Quốc Sỹ dùng cặp mắt trong suốt và thơ ngây của mình để biến cõi Thực – anh đang phải sống, anh không chấp nhận và coi tính chất bi đát của nó chỉ là phù du trong sự vận chuyển vô cùng khoáng đạt của Vũ Trụ - thành những biểu tượng, vô tình anh đã vĩnh viễn hóa nó trong nỗi bi đát không cùng...” (ngưng trích)

Đó, nhân vật của Doãn Quốc Sỹ thơ mộng như thế đấy, chỉ là cổ tích và thần thoại. Thực tế, ngoài đời thường, cụ Doãn Quốc Sỹ cũng thần thoại và cổ tích y hệt. Hãy nghe lời kể của nhà thơ Đỗ Quý Toàn (bình luận gia Ngô Nhân Dụng) trong bài viết nhan đề “Doãn Quốc Sỹ - Thế Đấy!” trích như sau:

“Hồi đầu 1970 một nhóm sinh viên văn nghệ ở Sài Gòn mời nhà văn Doãn Quốc Sỹ tới nói chuyện. Tiễn ông ra về rồi, mấy phút sau thấy ông quay trở lại. Ông cười hề hề, hỏi có ai dùng xe gắn máy đưa ông về nhà được không. Tại sao? Ông cười khà khà: ‘Mất xe rồi! Ai nó lấy mất rồi!’

Cái xe “nội hóa” La Dalat ông vẫn lái đi giao những tác phẩm của ông và nhà xuất bản Sáng Tạo cho các tiệm bán sách. Cả một tài sản, và phương tiện mưu sinh cần thiết. Nó biến mất. Mà hồi đó ở Sài Gòn chắc không ai mua bảo hiểm để mất xe sẽ được đền! Mất xe, ông vẫn cười khà khà, như thể mới nghe ai kể một chuyện hài hước!

Cả đời Doãn Quốc Sỹ vẫn cười khà khà, mắt không trợn lên, lông mày không chau lại. Không để cái được, cái mất, cái may, cái rủi làm động tâm. Thường ai cũng muốn tu tập công phu để đạt tới trạng thái này. Hình như Doãn Quốc Sỹ sống tự nhiên như vậy, không hề cố gắng. Ông viết cuốn Vào Thiền, tái bản nhiều lần. Bị cộng sản bắt bỏ tù, vào trong tù ông ngồi thiền. Quản giáo bắt đi nghe gì thì đi. Có gì ăn thì ăn, lúc nào được ngủ thì ngủ. Bị bắt lần thứ hai, vẫn như vậy, lại ngồi thiền. Thở vào, thở ra, nhẹ như mây bay, vững như núi đá.” (ngưng trích)

Thế là cụ an nhiên y hệt trên mây rồi. Nhân vật trong truyện của cụ Doãn Quốc Sỹ là cổ tích thì dễ hiểu, nhưng trong khuôn viên đại học và trong lao tù mà vẫn sống được như chuyện cổ tích thì quả là hy hữu. Một bài viết nhan đề "Dọn Dẹp Tạp Niệm" của Doãn Tư Liên, con gái cụ Doãn Quốc Sỹ, có đoạn đối thoại với cụ, trích như sau:

Có lần con gái hỏi Cụ: - Bố, giữa khuya bố còn ngồi thiền như thuở trong tù không? 

- Không con. Lúc nào bố chẳng hành thiền. Đâu cần phải ngồi đâu!

- À, thì ra thế.

Thôi thì cụ già 100 tuổi mà vẫn đi đứng, nằm ngồi mà không cần người trợ giúp (ngưng trích)

Trong tác phẩm “Vào Thiền” của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, tôi đặc biệt là nhớ tới hình ảnh dòng sông và que diêm, do cụ Doãn viết về đời người, xin trích:

“Dòng đời như dòng sông, không một sát na nào ngừng trôi chảy. Nô lệ cho lý trí đơn thuần ham cắt xén thì chỉ thấy được cái ngưng đọng, cái chết. Những khái niệm con đẻ của lý trí chật hẹp và khô cứng kia làm sao chụp được dòng thực tại không ngừng triền miên trong thế tương sinh tương lập - đối tượng của thiền! Mỗi chúng ta là một que diêm sống! Không ai sống hộ ta, ta phải tự sống lấy, tự chiêm nghiệm lấy Thiền. Que diêm khi tắt đi, chút khói xanh để lại. Rồi chính chút khói xanh đó cũng tan loãng nốt và biến hẳn-như vết chân cát xóa! [...] 

Nói đến Thiền là nói đến không tâm. Nhưng đừng quên phần đi song hành với không tâm là diệu hữu. Bởi vì nếu chỉ đơn thuần có không tâm thôi, thì đó là ngoan không cái không trống rỗng, không có gì!”

(ngưng trích)

Và nơi đây, xin chép lại hai câu đối của Phan Tấn Hải thành kính viết mừng cụ Doãn Quốc Sỹ tròn 95 tuổi vào năm 2018:

Mang gươm giới định huệ, đi tới cùng trời cuối đất

Phá trận tham sân si, viết để Giữ Ngọc Gìn Vàng...

Độc giả có thể tìm đọc thêm ở trang https://www.doanquocsy.com/ nơi đang lưu giữ nhiều bài viết, tác phẩm, hình ảnh của nhà văn Doãn Quốc Sỹ và nhiều nhận định từ nhiều nhà văn khác. Và đó cũng là nơi bạn sẽ bước vào thế giới thần thoại của một nhà văn rất độc đáo.

Nguyên Giác Phan Tấn Hải

DOÃN QUỐC SỸ, MỘT TÂM HỒN THẤM ĐẪM TINH THẦN DÂN TỘC - Bùi Văn Phú

Sống qua hơn một thế kỷ, nhà giáo, nhà văn Doãn Quốc Sỹ là nhân chứng của một giai đoạn lịch sử nước Việt đầy thăng trầm.

Khi tôi học lớp 10 và 11 ở trường Nguyễn Bá Tòng thì biết đến giáo sư Doãn Quốc Sỹ qua những tập sách khảo luận của ông về Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát mà tôi cần đọc thêm để làm bài trong giờ Việt văn với các thầy Thái Văn Khôi, Trần Bằng Phong và cũng để ôn bài cho kỳ thi Tú tài I.

Những năm sau đó tôi mới đọc Gìn vàng giữ ngọc, xuất bản năm 1960, và Sầu mây năm 1970, cùng vài tác phẩm khác nữa của Doãn Quốc Sỹ, một trí thức Hà Nội di cư vào sống trong Nam từ năm 1954, cùng với Mai Thảo, Nguyễn Đình Toàn và một số văn nghệ sĩ miền Bắc khác.

Gìn vàng giữ ngọc gồm 6 truyện ngắn: Khu vườn bên cửa sổ, Căn nhà hoang, Tiền kiếp, Cái chết của một người, Hương nhân loại, Chiếc chiếu hoa cạp diều, Gìn vàng giữ ngọc. Qua những câu chuyện thời kháng chiến, chuyện tản cư của gia đình tác giả, dù trong hoàn cảnh nào thì tình thương yêu, tính nhân bản của nhân vật cũng được đề cao, dù có đói ăn, thiếu mặc hay đang sống trong hoàn cảnh giặc giã, chiến tranh.

Những điều về con người cộng sản trong phong trào Việt Minh, ông ghi lại trong chuyện Gìn vàng giữ ngọc, qua câu nói của một người thân trong gia đình: "Em nên nhớ anh Sơn bỏ ngoài kia vào đây cũng để tránh những thái độ soi mói vào đời tư một cách bất lịch sự, vô chính trị và vô… giáo dục như vậy. Đó là nguyên do khiến tác giả bỏ chiến khu về thành, sau năm năm theo kháng chiến chống Pháp từ 1946 đến 1951.

Truyện Khu vườn bên cửa sổ là cuộc tình lãng mạn của một chàng bác sĩ quân y với Linh, mà chàng sau này lại trở thành người yêu của Huyên. Linh và Huyên đều là sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn, Linh học ban Anh văn, từng tu nghiệp Mỹ, có người yêu là sinh viên Việt đang học đại học Mỹ danh tiếng Cal Tech. Tính tình Linh cởi mở, hoạt bát tự nhiên, còn Huyên thì khép kín. Câu chuyện ghi lại nhiều biến cố lịch sử từ ngày gia đình các nhân vật ở Hà Nội, Thanh Hóa, Vĩnh Yên hay đã vào Tây Ninh, Sài Gòn.

Từ chuyện tình của Linh, xuất bản lần đầu vào năm 1960, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã ít nhiều giới thiệu nước Mỹ cho độc giả miền Nam, dù khi đó ông chưa đặt chân đến Hoa Kỳ. Vì sự can thiệp của người Mỹ vào cuộc chiến, nên ông đã đưa văn hóa Mỹ và Việt vào trong nhiều tác phẩm. Dấu chân cát xóa ông viết trước ngày 30/4/1975 nhưng chưa kịp xuất bản, cho đến khi được in ở Hoa Kỳ sau đó. Trong tác phẩm này là câu chuyện của Chương, một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã giải ngũ, được du học Mỹ với học bổng USAID. Qua Chương, nhiều nét văn hóa Việt-Mỹ đã giao thoa, như những bài dân ca: Đèn cù, Lý con sáo, Se chỉ luồn kim nghe được ở nhà một giáo sư đại học người Mỹ; như phong cảnh, tập tục của người Mỹ trải dài từ West Virginia, New York, Illinois sang California; đến nền móng của Kitô giáo, triết lý của đạo Phật. Trong tác phẩm này còn có chuyện tình giữa chàng trai Việt, cựu Trung úy Biệt động quân tên Lĩnh và cô gái Mỹ tên Horthy, chọn tên Việt là Hoa. Ở đây nhà văn muốn cho độc giả thấy khi nhắc đến Việt Nam thì chiến tranh không phải là trọng điểm mà ở đó còn có một nền văn hóa truyền thống lâu đời với nhiều nét đẹp.

Giáo sư Doãn Quốc Sỹ đã qua Mỹ tu nghiệp sư phạm hai năm, 1966-68, về nước ông viết Sầu mây kể lại những ngày ở Mỹ ông đã giới thiệu văn hóa Việt cho người Mỹ mũi cao, tóc vàng, mắt xanh.

Có lẽ vì thế Hà Nội đã xem ông là  biệt kích văn hóa\ và đã bắt giam ông hai lần, từ năm 1976 đến 1980 và lần thứ hai từ 1984 đến 1991. Sự việc ông bị bắt lần thứ hai liên qua đến tác phẩm Đi ông gửi ra nước ngoài, xuất bản lần đầu ở Pháp vào thập niên 1980, dưới bút danh Hồ Khanh.

Khi vận động trả tự do cho ông và các văn nghệ sĩ bị Hà Nội giam tù, tổ chức nhân quyền Ân xá Quốc tế đã ghi trong bản tường trình về trường hợp giam giữ nhà văn Doãn Quốc Sỹ khi ông bị báo chí nhà nước lên án là  cán bộ chiến tranh tâm lý của Mỹ văn chương phản cách mạng bóp méo sự thật lịch sử của kháng chiến là  kẻ lợi dụng thời cơ.

Tháng 5/1984, ông bị bắt cùng với các văn nghệ sĩ như Hoàng Hải Thủy, Khuất Duy Trác, Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường mà không bị đem ra xét xử trong nhiều năm.

Trước sự vận động của các tổ chức nhân quyền và áp lực của thế giới, tháng 4/1988, Hà Nội mớiđem ông ra xử cùng với Hoàng Hải Thủy, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tú, Nguyễn Thị Phước Lý và nhân viên bưu điện Nguyễn Thị Nhàn, bị cáo buộc đồng lõa đã giúp chuyển tác phẩm Đi của ông sang Pháp.

Ông bị kết án hơn 10 năm tù, được thả vào tháng 11/1991 và đến Mỹ đoàn tụ cùng gia đình năm 1995. Tác phẩm Đi gồm 19 chương, ông viết ở trong nước, ghi lại sinh hoạt đời sống của gia đình ông, của nhiều người Việt với hai lần di cư vào năm 1954 và cuộc di tản tháng 4/1975 và sau đó là làn sóng vượt biển. Ông viết về những khó khăn trong đời sống dưới chính quyền cộng sản qua chuyện lý lịch, chuyện dạy học và chuyện vượt biển của hàng trăm ngàn người Việt.

Văn chương của ông nhẹ nhàng, dù phác họa lên những đắng cay, đau khổ, ngang trái của đời ông, trong cuộc sống của người Việt, nhưng luôn ẩn chứa niềm tin vào tiền thân lịch sử của dân tộc. Qua nhân vật hay những câu viết trong truyện ngắn Tiền kiếp cho thấy ông không ưa cộng sản vì gieo bi quan, nghi ngờ trong giới trí thức" nên Tân, một nhân vật biểu tượng của con người ông, đã bỏ kháng chiến năm 1951 để về thành. Ông không thích nếp sống xa hoa của những người thực dân Pháp trên quê hương mình, qua hành động của Tân khi vứt bỏ những đồng năm hào, là biểu tượng của người Pháp đang đô hộ Việt Nam, xuống cống nước đen. Ở những chỗ khác trong tác phẩm, ông đã biểu lộ không ưa chủ thuyết tư bản, thể hiện trong chính sách của Mỹ, hay nếp sống hiện sinh được bàn tán nhiều ở Pháp trong những năm đầu thập niên 1960.

Qua tác phẩm, Doãn Quốc Sỹ đã thể hiện ông là một người Việt chân chính, với tinh thần dân tộc, yêu thương đất nước, tôn vinh những cái đẹp, những điều nhân bản trong cuộc sống, giá trị của tự do:  Chỉ những hiện thân của u tối, của thiển cận mới tưởng rằng nắm được quyền hành là nắm được lòng người. Dù có bị chế độ cộng sản giam tù, ông vẫn tin vào con người nhân bản: "Người đâu có nhất thiết tạo thành địa ngục cho nhau, nhất thiết là đao phủ của nhau.

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu.

Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.

Năm 1956, ông là người đồng sáng lập ra nhóm Sáng Tạo, cùng với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh, Ngọc Dũng, tạo ra diễn đàn sinh hoạt văn chương, xuất bản tác phẩm, tạp chí. Có thể nói ông là một trong những văn nghệ sĩ đã khai sinh ra nền văn học Việt Nam Cộng hòa với hàng chục nhà xuất bản đã phát hành cả ngàn tác phẩm văn học đủ thể loại trong 20 năm.

Cuộc đời của nhà văn Doãn Quốc Sỹ trải qua 102 năm, hơn một thế kỷ, nên ông đã là chứng nhân của lịch sử. Với 25 tác phẩm để lại cho đời(*), đáng chú ý nhất là bộ trường thiên tiểu thuyết Khu rừng lau gồm bốn quyển, với gần hai ngàn trang sách: Ba sinh hương lửa, Người đàn bà bên kia vĩ tuyến, Tình yêu thánh hóa và Đàm thoại độc thoại, ghi lại những biến động của đất nước qua các cuộc chiến tranh chống Pháp từ đầu thập niên 1930 cho đến chiến tranh Việt Nam khi lên cao điểm vào thập niên 1960, với sự can dự mạnh mẽ của Hoa Kỳ.

Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm đứt, với tác phẩm Đi viết về đời sống và hoàn cảnh của người Việt sau ngày 30/4/1975, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã để lại cho thế hệ mai sau một bộ trường thiên tiểu thuyết 5 quyển phản ánh con người và nước Việt qua một giai đoạn với nhiều thăng trầm của lịch sử nhưng vẫn giữ được hồn dân tộc.

BÙI VĂN PHÚ

(dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California)


(*) Ghi chú của gia đình DQS: Thật ra, nhà văn DQS để lại hơn 40 tác phẩm (tiếng Việt và tiếng Anh) trong đó có hơn 35 tác phẩm xuất bản trước 1975 tại Miền Nam Việt Nam, và 5 tác phẩm xuất bản tại hải ngoại sau 1975. Sau đó, gia đình DQS đã tái bản 24 tác phẩm.

MỘT VÌ SAO SÁNG - Đỗ Dung

Tin bác Doãn Quốc Sỹ đã qua đời khoảng 10 giờ sáng ngày 14 tháng Mười khiến chúng tôi thật bàng hoàng dù biết rằng sớm muộn gì tin này cũng sẽ tới!  Một vì tinh tú sáng ngời trên nền trời Văn Học Việt Nam đã tắt. Bác đã ra đi!!! Thế rồi tiếng phone liên hồi, text chớp liên tiếp.  Chị em chúng tôi xao xác liên lạc để thông tin nhau.

Mới cách đây ba năm, mùa Xuân 2022 chúng tôi đã cùng nhau làm một audio book để chúc mừng Bác, khi ấy rất vui, ríu rít mừng BÁC TRÒN TRĂM TUỔI. Hôm nay giữa mùa thu, trời hơi se lạnh, lá vàng lác đác rơi, Bác đã bỏ chúng ta, bỏ cõi đời này.  Con bé em Út mếu máo “Từ nay về miền Nam Cali không gặp Bác nữa rồi... Em yêu quý và nhớ Bác Sỹ quá!” Dù chị em chúng tôi mỗi đứa một nơi, không ở bên nhau lúc này nhưng cũng  ngậm ngùi qua phone thương nhớ ông Bác đã đi xa.

Rồi qua Internet, qua mạng lưới toàn cầu ngập tràn tin về Bác. Những bài viết kể về tiểu sử, về những tác phẩm, về những ý tưởng bác muốn truyền lại cho con cháu, cho những thế hệ về sau. Những lời ca tụng trân quý của người đọc về phẩm cách cao quý, về lòng yêu nước, yêu thương dân tộc và những xót xa cho thân phận con người của

Bác... Nhiều lắm, nhiều lắm... Con người Bác thật vĩ đại và cao cả quá! Chúng tôi thật tự hào!

***

Kính Thưa Bác,

Với chúng con, được là hàng xóm nhà Bác ở Thành Thái mấy chục năm, từ khi còn nhỏ xíu đến lúc trưởng thành thì Bác như một Cây Cổ Thụ, một Cây Sồi Ngàn Năm, một Cây Tùng Vạn Tuế toả những năng lượng ấm áp cho những người gần bên.  Qua những trang sách của Bác với giọng văn bình dị, điềm tĩnh và đôn hậu, tuy không lên giọng dậy đời nhưng chúng con đã học được rất nhiều điều.  Khi được ngồi bên cạnh Bác, nghe giọng nói hiền hoà, nhìn khuôn mặt trầm tĩnh của Bác, chúng con như hấp thụ được năng lượng ấm áp ấy, khiến tâm hồn con thật thanh thản, nhẹ nhàng.  Khi con viết xong cuốn sách “Như Một Thoáng Mây Bay” trình lên Bác thì Bác đã đọc và viết cho Lời Tựa quý báu và thật hân hạnh cho con, ngày Ra Mắt Sách cũng như ngày được lãnh giải Danh Dự  Viết Về Nước Mỹ do Việt Báo tổ chức Bác đều đến tham dự.

Con rất hãnh diện và vô cùng cảm kích sự ân cần của Bác.

Bây giờ Bác đã ung dung rời bỏ cõi tạm này để đến nơi THẢNH THƠI – AN LẠC ĐỜI

ĐỜI. Với chúng con, hình ảnh Bác, những tác phẩm của Bác vẫn còn đây, Cây Tùng Vạn Tuế

vẫn còn đây, nguồn năng lượng ấm áp của Bác vẫn còn đây, VẪN MÃI TRONG TÂM

TƯỞNG CỦA CHÚNG CON.

*** 

Thanh, Khánh, Liên, Thái, Vinh, Hưng, Hiển, Hương thương yêu, chị Dung  và các em chị chia buồn với các em và toàn thể tang quyến về sự mất mát quá to lớn này!

Chúng con xin góp lời cầu nguyện Hương Linh Bác mau chóng AN VUI chốn NIẾT BÀN.

Chị em gia đình họ Đỗ chúng con xin kính bái!


ĐỖ DUNG

Aug 30, 2025

NHỚ MẸ TA XƯA - Doãn Quốc Hưng

Cả nhà ơi, 
Bài này phỏng vấn Thủy Tiên về hát văn, kiến thức rất rộng và sâu.
Hưng Gàn

Mùa Vu Lan lại về, là mùa báo hiếu, nhớ về mẹ. Người Việt ở Miền Nam trước 1975 và sau này ở hải ngoại thường hát những ca khúc tiêu biểu về mẹ như Bông Hồng Cái Áo (Phạm Thế Mỹ), Mẹ Tôi (Nhị Hà), Lòng Mẹ (Y Vân)… Đặc biệt nhất vẫn là Bông Hồng Cài Áo, vẫn còn được nhiều Phật Tử hát ở chùa bên Mỹ trong những ngày lễ Vu Lan. Nhiều người nghe, người hát không cầm được mắt vì những câu hát:

Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho anh
Và một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười
ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm…
 
Những ca khúc về Vu Lan kể trên đều viết theo phong cách hòa âm Tây Phương. Có người nghĩ rằng những ca khúc về mẹ Việt Nam với những làn điệu dân ca hẳn sẽ còn chạm vào trái tim của khán giả Việt hơn nữa. Ở Việt Nam hiện nay có một bài hát về mẹ được nhiều người yêu thích, viết với điệu hát Văn của Miền Bắc: Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa. Phiên bản đầu tiên ra đời cách đây đã hơn 20 năm; ngày càng có nhiều nghệ sĩ trình diễn với các biến tấu khác nhau. Nhớ Mẹ Ta Xưa hiện được xem là bài hát Văn về mẹ hay nhất.
 
Chị Nguyễn Thủy Tiên là một nhà nghiên cứu dân ca ở Hà Nội. Chị đi khắp ba miền, đến những vùng quê xa xôi, gặp những nghệ nhân cao tuổi, sưu tập lại những làn điệu dân ca đang dần mai một. Chị đã giải thích khá tường tận về nguồn gốc của bài hát Văn chủ đề mẹ độc đáo này.
 
Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa là một bài thơ của Nguyễn Duy, thi sĩ nổi tiếng với những vần điệu lục bát. Bài thơ được viết ở Sài Gòn vào năm 1986:
 
Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào
 
Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa
Cái cò... sung chát đào chua...
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
Bao giờ cho tới mùa thu
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao
Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm...
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi
 
Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ... mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng
 
Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm xưa
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương...
 
Thơ lục bát của Nguyễn Duy đậm chất ca dao khiến nhiều người tưởng bài thơ được ghép từ những câu ca dao truyền khẩu. Những ai từng đi thăm Miền Bắc, từng gặp những bà mẹ răng đen áo nâu sòng, quấn khăn mỏ quạ sẽ nhận thấy lời thơ là những bức tranh tả chân sống động về một làng quê mộc mạc, thanh bình. Những bà mẹ quê tần tảo nuôi con, thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng vẫn được trân trọng trong nền văn hóa Việt. Nhiều người xa quê hương mỗi khi nghe những câu ca dao, làn điệu dân ca, điệu hát ru là phải rơi lệ. Bởi vì những lời ru, câu hát đó đã được những bà mẹ đặt sâu vào tiềm thức của dân tộc Việt trải qua bao thế hệ.
 
Khi nói đến dân ca Miền Bắc, đa số người Việt sẽ liên tưởng ngay đến Quan Họ Bắc Ninh. Giai điệu da diết, trữ tình của Bèo Dạt Mây Trôi đã trở thành bất tử, theo người Việt xa xứ đi khắp nẻo phương trời. Thật ra, là cái nôi văn hóa dân tộc Việt Nam, Miền Bắc có nhiều điệu hát dân gian khác nữa, đa dạng, nhiều màu sắc. Bài hát Nhớ Mẹ Ta Xưa viết theo thể hát Văn, có nguồn gốc từ phong tục thờ Mẫu của người Việt. Giống như Quan Họ, hát Văn cũng có nhiều làn điệu khác nhau: nhóm Dọc (có Dọc Nam, Dọc Bắc), nhóm Cờn (Cờn Nam, Cờn Bắc...), nhóm Xá. Hát Văn cũng sử dụng nhiều làn điệu từ các loại hình khác như Ca Trù, Xẩm, Chèo... Mỗi nhóm có giai điệu, tiết tấu khác nhau; nghệ nhân tùy theo cảm hứng mà đưa vào bài hát.
 
Trong tân nhạc, khi nhạc sĩ lấy lời thơ để viết nhạc thì gọi là “phổ thơ.”  Khi lấy một bài thơ làm lời cho hát Văn thì gọi là “lồng điệu”. Hiện nay, phiên bản Nhớ Mẹ Ta Xưa phổ biến nhất, được nhiều nghệ sĩ trình diễn nhất là do Khắc Tư, một nghệ sĩ hát chèo lồng điệu. Nếu tìm trên youtube sẽ thấy bài hát này do nhiều nghệ sĩ có tiếng như Tân Nhàn, Đình Cương, Xuân Hinh… trình diễn. Vào năm 1998, anh Khắc Tư cùng đoàn chèo đi biểu diễn ở Nga, đã lồng các điệu hát Văn cho bài thơ này. Những năm trước khi Việt Nam mở cửa, các hoạt động tín ngưỡng như thờ Mẫu bị coi là mê tín dị đoan; hát Văn thời kỳ này bị cấm. Sau năm 1995, khi chính quyền chịu đổi mới, các hoạt động tín ngưỡng dần khôi phục, hát Văn bắt đầu thịnh hành hơn. Anh Khắc Tư là một người hát Chèo chuyên nghiệp, nhưng vẫn đi hát Văn thêm để đủ sống. 
 
Là một ca sĩ, anh Khắc Tư lồng điệu cho bài Nhớ Mẹ Ta Xưa theo bản năng và cảm tính cá nhân. Trong bài này, anh chỉ sử dụng điệu Cờn, điệu Ru, cho nên khá dễ hát. Chính anh Khắc Tư trình diễn bài này thật cảm động, chân tình:
 https://www.youtube.com/watch?v=6S-3EcYJ7w4
 
Bài hát được mở đầu với phần ngâm thơ. Người nghe bồi hồi, hình dung cảnh người con đứng trước bàn thờ hương khói, tưởng nhớ về người mẹ hiền đã khuất bóng:

Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào…

Rồi làn điệu Văn cất lên, lúc trầm lúc bổng, gợi nhớ lại những kỷ niệm xưa với bà mẹ quê chất phát, tảo tần. Chị Thủy Tiên nói rằng nhà thơ Nguyễn Duy mồ côi mẹ từ năm 4 tuổi. Do còn quá bé, nên khi làm bài thơ này, ông nhớ về mẹ từ những hình ảnh chung của bà mẹ ở miền Bắc Việt Nam:

…Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa…

Tuy nhiên, cũng có những hình ảnh chung của bà mẹ quê ba miền. Đó là những điệu ru nay đã trở thành ngôn ngữ chung của dân tộc Việt:

Cái cò... sung chát đào chua...
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru…

Rồi bài hát được kết thúc với điệu ru Miền Bắc, nghe sao mà thương nhớ quê hương lạ lùng:

…Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ... mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng…
 
Những bài hát Văn thường được đệm bằng đàn Nguyệt, cây đàn gảy hai dây với âm thanh đặc trưng của dân ca Miền Bắc. Một đặc điểm nữa của hát Văn là cũng với một bài hát, người trình diễn có thể ngân nga, nhấn nhả, luyến láy theo cách biểu cảm của cá nhân. Tính ngẫu hứng trong hát Văn là vậy, khá giống với nhạc Jazz của Mỹ.
 
Bài Nhớ Mẹ Ta Xưa của Khắc Tư mộc mạc, dễ thấm vào lòng người, cho nên phổ biến khá rộng rãi. Những ai thích hát Văn đúng truyền thống hơn có thể tìm nghe phiên bản được nghệ sĩ Đàm Quang Minh lồng điệu vào năm 2019. Anh Minh là một Việt Kiều Pháp. Nghe kể rằng thuở bé anh từng được bố cho đi nghe Ca Trù, Chèo, Tuồng... cho nên mê dân ca từ nhỏ. Khi về nước anh lập ra nhóm Cổ Nhạc Đông Kinh, mời những nghệ sĩ hàng đầu ở Hà Nội diễn lại những trích đoạn Chèo, hát Văn... Trong trích đoạn video dưới đây, bản Nhớ Mẹ Ta Xưa được trình diễn trong một chương trình nhạc dân tộc tại Trường Đại Học Văn Lang Sài Gòn. Người quay video là anh Phương, chồng của chị Thủy Tiên, cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền: https://www.youtube.com/watch?v=kmh-fv270x4
 
Anh Đàm Quang Minh lồng điệu Văn theo lề lối của một bản văn thờ, như một bài mà Nguyễn Duy viết để "thờ" mẹ. Khi lồng điệu theo lối văn thờ sẽ có: 

- Mở đầu là phần Thỉnh, là phần hát ru. Thông thường hát ru chỉ là một người, nhưng trong trường hợp này là ru đồng ca. 
- Phần Kể Thần Tích: Dùng điệu Dọc Nam
- Phần Cảm Thần Tích: Dùng điệu Cờn (giống với làn điệu của anh Khắc Tư)
- Phần Nhập Thần Tích là sự thăng hoa, sử dụng điệu Xá
- Phần kết trong bài vẫn sử dụng điệu Xá sôi động, vui tươi để làm nền cho nghi thức phát lộc. 
 
Phiên bản này phong phú về làn điệu, công phu hơn, nhưng cũng vì thế mà không có bố cục như một bản dân ca thông thường, cho nên để thưởng thức cần sự quen thuộc với những giai điệu dân gian Miền Bắc.
 
Dù nghe phiên bản nào đi chăng nữa, tưởng nhớ mẹ Việt Nam qua một làn điệu dân ca cũng làm cho mùa Vu Lan báo hiếu năm nay đậm đà thêm hương vị quê nhà xa xăm.
 
Doãn Hưng