Oct 18, 2019

XIN CẢM ƠN CUỘC ĐỜI



CON VỊT LÀM CLIP

"con Vịt" làm clip quá siêu. Bác Liên mê nó!







Cóc Vịt xinh is always the best .
We love you Vịt 🐣😍😍😍

Oct 15, 2019

BÀI HỌC BỐ DẠY - MỖI CHÚNG TA LÀ MỘT QUE DIÊM SÁNG



...

Mỗi chúng ta là một que diêm sáng! Không ai sáng hộ ta, ta phải tự sáng lấy, tự chiêm nghiệm lấy Thiền! Que diêm khi tắt đi, chút khói xanh để lại ... Rồi chính chút khói xanh đó cũng tan loãng nốt và biến hẳn như dấu chân cát xoá!

...

Doãn Quốc Sỹ
(Không Tâm Trong Thiền Học / Vào Thiền)

---

Đọc thêm: https://www.doanquocsy.com/


***

Thứ nữ Liên học bài học của Bố,
rồi truyền lại cho con gái Ti,
rồi con gái Ti truyền cho con gái Cỏ:


Mỗi chúng ta đều biết cười ! 
Không ai cười hộ ta, ta phải tự cười, 
tự chiêm nghiệm lấy 
Thiền! 

Voilà,
Con, cháu, chắt đã học bài học của Bố, Ông, Cụ !

😊😋😛













O VỚI TUI


Khoai to bồn thì tốt cộ (bồn=vồn=luống;cộ=cổ=củ)
Đậu ba lá thì vừa un (un=vun=đắp)
Gà mất mẹ thì lâu khun (khun=khôn)
Gái thiếu trai thì thậm khổ.
Trai thiếu gái cũng thậm khổ !

Trời sinh voi thì sinh cỏ
Trời sinh giếng thì sinh mo (mo cau múc nước)
Trời sinh sông thì sinh đò.
Trời sinh O thì sinh tui. (o=cô)

O một mình cũng khôn đặng (khôn=không)
Tui một mình cũng khôn đặng.
Gió ngoài biển hắn dồn vô
Mây trên trời hắn cuốn lại.
O với tui cùng cuốn lại.
Hai đứa mình cùng cuốn lại…

















NHÃ CA HỒI KÝ - GÓC NHÌN TỪ THẾ HỆ THỨ HAI




Khi cầm cuốn hồi ký của cô Nhã trong tay, tôi đã biết là mình sẽ không đọc như đọc truyện, hay đọc một tác phẩm văn học. Đọc để nhớ lại ngày tháng, thấy lại một quãng thời gian đã qua đi 4 thập kỷ. Tôi biết là sẽ lại thấy hình ảnh của bố mình, của gia đình mình. Sẽ nhớ lại rất nhiều nhân vật mà tôi đã từng có lần cúi đầu khoang tay chào “cô ạ, chú ạ, bác ạ…”. Những người bạn của bố Sỹ- giống như cô Nhã- khi đã trải qua những sóng gió thăng trầm nhất của cuộc đời, thì tôi vẫn còn là một cậu học sinh trung học.

Đọc hồi ký cô Nhã, người tôi nhớ đầu tiên là chú Duy Trác. Hồi chú đi tù về năm 81, chú ghé thăm bố Sỹ ngay. Kể từ đó, chú thường ghé nhà tôi đánh mạc chược, tham gia những buổi văn nghệ bỏ túi, kể cho lũ con cháu nghe chuyện ở tù. Có một lần, khi nói về tác phẩm “Đi” của bố tôi lén gởi ra xuất bản ở nước ngoài, chú Trác nói như thế này: “… thời buổi này, bên nước ngoài, khi nhắc đến Việt Nam, người ta hay viết về nỗi khổ của những người vượt biên. Có một đề tài mà chưa có mấy người để ý tới: người ở lại. Cuốn “Đi” có nói về chủ đề này. Nhưng mà bố cháu viết còn hiền quá, chưa lột tả hết những bi hùng của những người ở lại…”.

Chỉ chừng một năm sau, cả bố tôi và chú Duy Trác đều đi tù lần thứ hai, trong vụ án “Doãn Quốc Sỹ và đồng bọn”. Bố tôi bị bắt chính vì cuốn Đi, còn chú Duy Trác vì hai ca khúc do chú sáng tác trong tù: Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về, và Tiếng Hát Đêm Noel. Cùng trong vụ này còn có các văn nghệ sĩ Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý…

Tôi nhớ đến chú Duy Trác,  vì nghĩ rằng nay nếu có đọc Hồi Ký của cô Nhã, chắc chú sẽ nói rằng: viết như vậy là đã kể được chuyện của những người ở lại.

Ở lại! Ở lại Sài Gòn sau 1975. Ở lại để thấy, để nghe, để sống trên quê hương vẫn nhọc nhằn, đầy sợ hãi, lo âu dù chiến tranh đã chấm dứt. Đám thế hệ thứ hai chúng tôi- con nhà Doãn Quốc Sỹ, Duy Trác, Nhã Ca- Trần Dạ Từ… nay thỉnh thoảng vẫn gặp nhau ở bên xứ Mỹ. Chúng tôi đồng ý với nhau một điều: giai đoạn đáng nhớ nhất của cuộc đời là những ngày còn ở lại Việt Nam sau 1975. Bao nhiêu năm sống sung sướng ở xứ sở văn minh, giàu có này vẫn không có làm cho chúng tôi quên được những ngày tháng khổ cực nhất trong đời người. Có một điều lạ là ngay vào lúc đó, chúng tôi không cảm thấy là mình đang cơ cực. Hình như khi cả xã hội cùng khổ, thì sự chịu đựng trở nên dễ dàng hơn. Sau này khi kể lại chuyện xưa, chúng tôi còn có khuynh hướng dành vị trí “hồi đó gia đình tao khổ hơn gia đình mày…”. Cơ cực trăm bề là vậy, nhưng chúng tôi vẫn có những niềm vui, vẫn có nụ cười, vẫn nuôi dưỡng được tình người. Những hạnh phúc nhỏ bé vào thời điểm đó đáng giá ngàn lần so với sự đầy đủ, tiện nghi thừa thãi của ngày hôm nay.

Những người đã từng ở lại Sài Gòn sau 1975 sẽ cảm thấy mình là một phần trong hồi ký Nhã Ca. Nhà tù nhỏ, trong cái nhà tù lớn hơn. Cô Nhã là người đã từng ở trong hai lớp nhà tù. Đã có lần sau khi được trả tự do về để nuôi con, khi đối chất với cán bộ quản lý, cô Nhã nói rằng sẵn sàng trở lại nhà tù nhỏ nếu cần thiết. Bởi vì nhà tù lớn cũng đầy sợ hãi, bất công, đàn áp. Đối đầu với chế độ công an trị ở ngoài nhà tù lớn cũng không dễ dàng hơn trong nhà tù nhỏ.

Nhà tù nào khổ hơn? Tôi nhớ gia đình cô chú Dương Hùng Cường. Khi chú Cường bị bắt vào năm 1984, cô Cường là một giáo viên trường Hồng Bàng, đã tìm cách bán căn tin trong trường để đủ tiền nuôi con. Rồi sau đó chú Cường mất trong tù. Nỗi khổ chưa dừng lại. Vài năm sau, đến lượt cô Dương Hùng Cường chết vì tai nạn xe cộ. Trong ngày đám tang cô, các người con chắc đều chưa quá 18 tuổi. Đứa lớn nhất là Linh, trong đám tang mẹ hình như em không thể khóc. Chắc tại em còn đang phải hình dung ra những ngày sau này, khi không còn cả bố lẫn mẹ, chị em phải sinh sống ra sao…

Những chuyện như vậy hình như chưa ai kể, và cũng không thể kể hết…

Là thế hệ con cháu, tôi nhớ cô Nhã hay đến nhà tôi cả lúc bố tôi còn ở tù, lẫn khi ông được trả tự do lần thứ nhất năm 1980. Hình ảnh của cô là một người phụ nữ luôn luôn điềm đạm, vững chãi, luôn biết những việc phải làm để đối phó với mọi tình huống khó khăn. Có lẽ vì vậy mà cô là chỗ dựa tinh thần cho mẹ tôi, một người phụ nữ ít ra ngoài xã hội, chỉ biết chăm lo cho chồng con. Sau những lần gặp cô, nghe cô nói về tình hình quốc tế can thiệp như thế nào cho các văn nghệ sĩ ở trong tù, mẹ tôi đỡ lo hơn cho số phận của bố…

Cô kể trong hồi ký về những ngày bác Mai Thảo trốn ở nhà cô cho đến khi vượt biên thoát. Đọc thì biết là vậy. Nhưng phải ở lại Việt Nam trong giai đoạn đó thì mới hiểu hành động này nguy hiểm đến dường nào. Sự sợ hãi, nghi kị bao trùm khắp xã hội Việt Nam. Chỉ cần bị phác giác, cô có thể sẽ vào tù trở lại. Và các em sẽ ở nhà lại tiếp tục không cha, không mẹ. Biết như vậy mà cô vẫn làm. Nếu là một người phụ nữ thông thường, chắc chắn cô phải đặt sự an nguy của con mình lên trên tình bằng hữu. Nhưng cái logic này đã không xảy ra với cô Nhã Ca.

Tiếng công an gõ cửa ban đêm… Bác Mai Thảo trốn lên mái nhà… Đối phó với công an, rồi biết rằng chúng vào nhà không phải vì bác Mai Thảo, mà định bắt lầm con trai của cô Nhã vì trốn nghĩa vụ quân sự, nhưng thực ra em chưa đến tuổi… Chỉ có những người ở lại Việt Nam, mới có thể hiểu được những nỗi sợ hãi đó kinh hoàng, ám ảnh đến như thế nào. ..

Vào năm 1984, ông anh T. của tôi đang trốn nghĩa vụ quân sự. Vào rạng sáng ngày 2 tháng 5 1984- ngay sau khi cả nước vừa nghỉ 2 ngày lễ lớn là giải phóng Miền Nam và ngày QUốc Tế lao động- công an cũng đập cửa nhà tôi. Anh T. cũng trốn lên trần nhà, và nghĩ là đây là một đợt kiểm tra hộ khẩu như thường lệ. Nhưng không. Khoảng 20 tên công an, mật vụ tràn vào nhà, để bắt bố tôi đi lần thứ hai. Chúng lục tung từng góc nhà. Có lên cả trần nhà, nhưng ở một góc khác. Chỉ có phép lạ mới giải thích được tại sao chúng không bắt được anh T. Sáng hôm sau, khi công an rút đi (nhưng vẫn cài người lại theo dõi), anh T. leo ra khỏi mái nhà, nhảy sang nhà bên cạnh, rồi lấy xe đạp đi ra khỏi con ngõ như là một người hàng xóm. Một tuần sau,  anh T. vượt biên thoát. Trước khi đi, anh có chạy sang báo cho Cô Nhã biết là bố tôi bị bắt, và nhắn tin  cho mọi người ai là cô Nhã không bị bắt đợt này.

Những kinh nghiệm sinh tồn như vậy, có khi chỉ xảy ra một lần trong đời…

Là thế hệ thứ hai, lũ trẻ chúng tôi cũng chia ngọt sẻ bùi với nhau như thế hệ cha mẹ. Một trong những nguồn giúp đỡ quí báu, kịp thời đối với các gia đình văn nghệ sĩ Miền Nam trong giai đoạn khó khăn nhất là từ cô Cao Ngọc Phượng (nay là sư cô Chân Không) và Thầy Nhất Hạnh. Khi nhận được những thùng quà từ Pháp, chị T. của tôi là người đi liên lạc với những gia đình văn nghệ sĩ khác để chia sẻ sự giúp đỡ này. Đối với gia đình cô Nhã, gia đình tôi còn có phần thân tình hơn. Chị T. mỗi khi có dịp làm bánh từ bột mì “tiêu chuẩn lương thực” hàng tháng đều đem đến biếu cô. Hôm nào hơi rủng rỉnh tiền bạc, thì bánh có thêm trứng. Có một lần cô Nhã bị bệnh, chi Thanh làm bánh đến thăm. Cô ăn xong, hỏi bánh kỳ này sao ngon hơn lần trước? Chị T. cười, nói rằng bánh lần này có đến 2 trứng! Rồi mỗi khi trong thùng quà có hộp bút chì màu,  có sách tô màu, chị T. để dành cho các em cô Nhã, vì các em còn ở tuổi tiểu học.

Những câu chuyện “ở lại” như vậy, làm sao mà quên được…

Và ngày hôm nay… Thế hệ thứ hai chúng tôi vẫn có dịp gặp lại nhau ở Mỹ. Chúng tôi hay kể cho nhau nghe những chuyện vui của tháng ngày “ở lại”. S.M- cô trưởng nữ của cô Nhã- nhắc đến kỷ niệm đi “ bùm chui” (nhảy đầm chui) với anh T. Còn H.B thì nhớ những đêm họp mặt giao thừa Tây, có chị H. hát Happy New Year của ABBA, sao mà hay thế! Chúng tôi ít nhắc đến những khốn khó đã từng trải qua. Có lẽ con người sinh ra là để hướng về những điều tử tế, tốt lành. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng tôi đã quên đi những chông gai mà tuổi thơ đã phải đối mặt và vượt qua. Những ngày tháng đã được cô Nhã ghi lại trong Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng…

Hình như đêm đen đã làm cho giây phút thưởng ngoạn ánh bình mình thêm phần ấm áp…

Tôi nhớ đến giọng hát của Trần Quang Lộc, trong ca khúc “Ở Lại Để Thấy”, bài hát mà chúng tôi rất thường ngân nga trong những tháng ngày “ở lại”:

“Ở Lại để thấy người ra đi rất nhiều
Ở lại để nghe những chuyện dài kể mãi không thôi
Ở lại để thấy những nếp nhăn trên nét mặt người
Ôi nếp nhăn nào tựa vết roi?

Ở lại để viết từng trang thư rất dài
Đêm dài bủa vây tiếng còi tàu dìu dắt tương lai
Ở lại để thấy những oán than trên khắp ngục tù
Ôi tiếng hát nào tựa bóng ma

Ở lại để thấy đường đi không lối về
Ly rượu bầm môi mắt bạn bè ngày hoắm sâu thêm
Ở lại để thấy những nỗi vui không đến tình cờ
Ôi nỗi vui nào cũng âu lo…”



Doãn Hưng

CHIẾC BÁNH ĐI CHƠI



Tôi được bạn Ngân của mình rủ đi chơi Minnesota vào gần dịp Trung Thu. Lâu lắm không gặp bạn nên tôi vui vẻ nhận lời và lập tức đề nghị:

“Khánh mang bánh Trung Thu làm quà cho Ngân nhé.”

Nhưng Ngân không mấy mặn mà với ý kiến này:

“Thôi, Khánh ơi. Chị Nga của Ngân đã mua rồi. Vả lại, Ngân cũng không thích cái món bánh này lắm.”

Tưởng thế là xong chuyện bánh Trung Thu, dè đâu sau lớp dạy học buổi tối trước hôm tôi đi, một người học trò níu tôi lại, ân cần trao một chiếc bánh Trung Thu:

“Cô ơi, em mời cô cái bánh này, chính tay em làm đó. Nhân thập cẩm em chọn toàn loại thượng hạng, lại mới học được cách nướng bánh của dân trong nghề. Cô ăn thử rồi sẽ thấy.

Cầm chiếc bánh xinh xắn trong tay, tôi máy móc nói lời cám ơn, trong đầu thì loay hoay với chuyến đi Minnesota ngày hôm sau. Phải chăng số trời đã định rằng chiếc bánh Trung Thu này sẽ được đi chơi Minnesota với tôi? Tính tới tính lui, rồi cuối cùng tôi cũng sắp cho “em nó” một chỗ ngay bên cạnh cái bánh croissant mà tôi mang theo làm món điểm tâm trên máy bay. Vài tiếng sau, khi tôi mở ba lô lấy món bánh Tây, thì mũi tôi không thể không chú ý đến mùi vị rất Tàu của chiếc bánh Trung Thu.

Ở máy bay ra, tôi bước vội qua dãy cửa hàng của phi trường và từ thang cuốn máy đi xuống nơi lấy hành lý, tôi đã thấy bạn mình đứng đón. Hai đứa tôi học chung trường trung học từ thuở xa xưa ở quê nhà xa lắc, vậy mà giờ này được ôm nhau mừng rỡ. Mấy ai có được một tình bạn lâu bền như vậy?

Khi lái vào nhà để xe của tòa nhà cao niên 7500 York, Ngân đậu vào đúng chỗ quy định của mình. Tôi bước ra khỏi xe, nhưng còn loay hoay với cái ba lô của mình. Cái giây kéo hình như bị bung ra? Tôi vội vã kiểm lại và thở phào vì thấy mọi thứ bên trong có vẻ còn nguyên vẹn.

Vào trong nhà, Ngân chỉ tôi xem mấy món ăn đã nấu sẵn cho hai đứa ăn trưa. Nghĩ tới chiếc bánh Trung Thu đã đồng hành của tôi suốt dọc đường từ California, tôi vui vẻ bảo Ngân:
“ Mình có món tráng miệng đó nha.

Nhưng sau đó thì tôi lại tiếp tục loay hoay với cái ba lô của mình vì tìm mãi không thấy cái bánh đã hứa hẹn.

“Lạ thiệt! Khánh nhớ rõ ràng là đã bỏ nó vào một bịch riêng cùng với bánh croissant!”

Hồi sau, vì tôi cứ thắc mắc hoài, Ngân sốt ruột nói:

“Thôi, quên nó đi Khánh ơi.”

Tôi bèn chuyển sang ngắm nghía căn nhà đầy những tác phẩm nghệ thuật của bạn mình. Nào là những bình hoa cắm rất đa dạng. Nào là những tác phẩm stained glass trên cửa sổ và đèn. Nào là những tấm lót bình đan hoặc móc bằng tay.

Tôi suýt xoa: “Sao Ngân nhiều tài quá vậy?” Và quên đi chiếc bánh Trung Thu nhỏ nhoi kia.
Tối hôm ấy, sau bữa ăn gọn nhẹ, hai đứa xuống xem một buổi trình diễn ca nhạc ngoài trời cho các “cụ”. Hết nhạc, quay về nhà thì Ngân để ý ngay một tờ giấy đính trên cửa, với giòng chữ:
“Ngân, hãy gọi Carolyn, số 927 5210, về chuyện một thứ gì đó có thể là của cô.”

Đưa tôi xem lời nhắn, Ngân càng thắc mắc:

“Mình có mất gì đâu!”

“Ngân tính gọi cho cô này không?”

“Lát nữa. Giờ Ngân phải đi tắm trước khi đi dợt cho buổi trình diễn ngày mai. Còn Khánh thì nghỉ ngơi đi, nếu muốn theo Ngân đi chơi.”

Thực vậy, Ngân đang tập dợt cho buổi kỷ niệm 40 năm thành lập nhà cao niên 7500 York Co-Op và tôi có ý định sẽ theo Ngân xem họ “làm ăn” ra sao. Thế là tôi ngoan ngoãn nằm duỗi trên chiếc ghế sofa êm ái của phòng khách, ngắm nghía chi tiết của những hình vẽ trên cửa sổ bằng kính. Rồi tôi ôn lại từ đầu chuyến đi và chưa gì đã thấy nhiều hứa hẹn rồi. Thế là tôi ngủ thiếp hồi nào không biết. Khi mở mắt ra thì nhìn quanh không thấy Ngân đâu. Vậy là hụt mất buổi tổng dợt rồi!
Khi quay về, Ngân trấn an tôi: “Đừng lo. Đợi coi diễn thật, càng hay hơn.”

Vào buổi chiều “trọng đại”, tôi đến sớm và được xếp ngồi cạnh một ông già tên Randy. Ông đi cùng với một cụ bà tên Marcia mà sau này tôi biết không phải là vợ mà là “bồ” của ông. Rồi tối đến, tôi lại có dịp nói chuyện với nhiều vị cao niên khác trong nhóm của Ngân, nhóm học viên lớp ngôn ngữ ký hiệu của người câm. Tiếp xúc nhiều, tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Các lão ông lão bà Minnesota quả thực đang sống hết mình và tất cả đều hết lòng tiếp khách phương xa sao cho được thoải mái tại tiểu bang nhà của họ. Bản thân (khách) tôi cảm thấy rất vui vì được tiếp đón nồng hậu và hoàn toàn không thắc mắc gì vì những trục trặc nho nhỏ. Chẳng hạn như vụ thất lạc chiếc bánh Trung Thu.

Sau bữa cơm tối, Ngân nhận một cú điện thoại dài lê thê và phải nghe đi nghe lại mấy lần mới hiểu ra là bà nói về chiếc bánh Trung Thu thất lạc. Theo đúng thứ tự thời gian thì sự thể như sau:

- Chiếc bánh được một cụ ông tên Lee Orchard nhặt và đặt lên cốp xe của Carolyn, đang đậu ở gần đó.

- Carolyn mang bánh về, kể cho con gái nghe về chiếc bánh chẳng hiểu từ đâu đến. Cô này đã từng dạy tiếng Anh cho thuyền nhân Việt Nam ở Hồng Kông và có biết chút ít tiếng Việt. Cô nhận dạng chiếc bánh Trung Thu là loại dân Việt Nam ưa chuộng.

- Carolyn quyết định loan tin về chiếc bánh lượm được, nhưng chưa kịp làm thì tình cờ gặp Mikki Lindsay, người chuyên trách việc tiếp đón những người mới dọn đến. Mikki nghe chuyện, bèn khuyên Carolyn tìm gặp Ngân, một người gốc Việt Nam mới dọn đến. Biết đâu Ngân chẳng là chủ nhân của chiếc bánh?

- Carolyn dán lời nhắn trên cánh cửa nhà Ngân, và Ngân đã đọc nó sau khi hai đứa chúng tôi đi ăn tối về.

Ai mà biết đâu chiếc bánh xinh xắn của tôi lại trở nên nhiễu sự như vậy.

Ngày hôm sau là ngày cuối của tôi ở Minnesota nên Ngân chở tôi và chị Nga của Ngân đi chơi Minneapolis Park. Khu công viên này thật tươi mát với những cây cổ thụ rợp bóng, những vườn hoa sặc sỡ và những con đường đi bộ quanh co tình tứ. Đã thế, tôi còn có hai chị em Ngân và Nga là những bạn đồng hành vui vẻ tuyệt vời. Cuối ngày, chúng tôi trở về với đôi chân mỏi nhừ nhưng tinh thần sảng khoái. Sau bữa ăn tối, tự nhiên tôi lại nghĩ đến cái bánh Trung Thu của mình. Phải rồi, vì câu chuyện chưa ngã ngũ mà!

Ngân quyết định:
“Chúng ta nên ghé qua nhà của Carolyn,” rồi liền mở danh mục kiếm số nhà. Carolyn ở cùng tầng với Ngân, tầng 4. Trước khi rời nhà, Ngân mở hộp bánh Trung Thu của mình ra, nói:
“Để Ngân chia một chiếc bánh cho Carolyn.”

Từ xa, hai đứa đã thấy một đám “họp chợ” gồm ba người đang bàn cãi, có vẻ hăng say lắm. Đó chính là Carolyn và hai người hàng xóm đối diện. Té ra đó là Randy và Marcia. (Ôi, tôi vui quá vì tình cờ gặp lại họ).

Rõ ràng là họ đang nói về tôi, Ngân và chiếc bánh Trung Thu. Thấy dáng chúng tôi từ xa, họ đồng reo: “Họ đến kia rồi!”. Thế là chợ ba người tăng thành năm. Chúng tôi hào hứng nói, đua nhau kể lại chuyên từ phía mình.

Cuối cùng Carolyn quay sang nhìn Ngân với ánh mắt hóm hỉnh:
“Bây giờ tôi hoàn trả lại bạn cái bánh Trung Thu nhé.”

Cô quay vào, rồi trở ra với cái bánh. Nhưng sao trông nó là lạ vì hơi bị thâm. Cô giải thích:
“Tôi sợ nó hư nên bỏ trong ngăn đông.”
Tôi cười ngất vì ai lại bỏ bánh Trung Thu vào ngăn đông bao giờ!

Sau đó Ngân lấy bánh của mình tặng Carolyn.

Carolyn nảy ý hay hơn:
“Hay là mình chuyển bánh này làm quà cho cô giáo dạy ngôn ngữ người câm?”
Ngân đồng ý ngay.

Hôm sau, quay về với căn phòng yên tịnh ở California, tôi vẫn cứ trầm ngâm về những vị cao niên tốt bụng tại 7500 York. Họ thật ân cần đối với nhau, với khách phương xa, và cả với những thức nhỏ xíu như chiếc bánh Trung Thu.

“Nhỏ xíu” ư? Thực ra nó chỉ nhỏ về kích cỡ thôi. Về ý nghĩa sâu xa thì nó là một biểu tượng của sự ân cần mà tôi nhận được từ người học trò California và từ cộng đồng cao niên Minnesota.

California, 13 tháng 10, 2019

Doãn Khánh





Tác giả tại Minnesota: 
tìm thấy hoa
những vẫn chưa thấy quà
😜😂



Oct 14, 2019

PHÁC HOẠ

Sáng nay ông ngoại Hiếu (phải) thức dậy sớm để nói chuyện với Cỏ và Sóc trước giờ đi ngủ. Khi "tám chuyện", Cỏ yêu cầu ông ngoại vẽ (liền tay) nàng vả anh Sóc. Đây nè...


***

Khi Cỏ bò,
Cỏ lắc vòng
Đố ông ngoại phác hoạ được Cỏ 😉