Tevijjavacchagotta Sutta - To Vacchagotta on the Threefold True
Knowledge.
The Buddha denies possessing complete knowledge of everything at all
times and defines the threefold knowledge he does posses.
Giảng cho Vachchagotta về ba minh.
Phật phủ nhận có toàn tri về mọi sự vào mọi lúc, và
định nghĩa ba minh mà Ngài chứng.
Vacchagotta [1] hỏi Phật, có phải sa môn Gotama là bậc nhất thiết trí
[2] khi
đi, đứng, ngủ và thức, tri
kiến nơi Ngài tồn tại liên tục [3].
Phật dạy ai nói vậy là
đã vu
khống Ngài với
điều không thực. Phải nói sa
môn Gotama có ba minh. Nếu muốn, Ngài có thể nhớ lại nhiều
đời quá khứ với đại cương và chi
tiết. Nếu muốn Ngài có thể thấy bằng thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, sự
sống chết chúng sinh tùy theo nghiệp. Và với sự
đoạn diệt các lậu hoặc, ngay hiện tại Ngài
chứng trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Phật trả lời các câu hỏi của du sĩ: Trong số những người tại gia chưa
đoạn trừ kiết sử tại gia [4], không người nào
đoạn tận khổ đau sau khi chết; nhưng rất
nhiều người được sinh lên trời. Không có tà mạn ngoại
đạo nào khi thân hoại mạng chung có
thể diệt tận khổ
đau; và dù Phật nhớ
đến 91 kiếp Ngài cũng không biết một
tà mạn ngoại
đạo nào chết
được sanh thiên, trừ một vị, vị này
thuyết về nghiệp và tác dụng của nghiệp [5].
Khi nghe vậy Vacchagotta bạch Phật: Nếu vậy thì ngoại
đạo quả là trống rỗng ngay cả vấn
đề sinh lên trời. Phật xác nhận
đúng như thế.
CHÚ GIẢI
1. Kinh này và 2 kinh kế tiếp dường như trình bày sự tiến hóa của
Vacchagotta theo thứ tự thời gian. Kinh Tương Ưng Bộ có cả một chương
thuật lại những
đàm luận ngắn giữa
Phật và vị này.
2. Theo luận giải, mặc dù câu này có một phần có giá trị,
đức Phật vẫn bác bỏ toàn bộ vì cái
phần vô giá trị của nó. Cái phần có giá trị trong câu nói ấy là xác nhận
rằng Phật là toàn tri, thấy biết tất cả. Phần hơi quá
đáng là xác nhận rằng tri kiến ấy
luôn luôn hiện hữu nơi Ngài một cách liên tục. Theo truyền thống Thượng
Tọa Bộ, Phật là toàn tri với ý nghĩa rằng tất cả những gì có thể biết.
Ngài có khả n
ăng biết được. Tuy nhiên
Ngài không thể
đồng lúc biết tất cả mọi sự,
mà phải tác ý
đến điều gì
Ngài muốn biết. Trong kinh 90, Phật dạy rằng có thể biết và thấy tất cả
mặc dù không thể cùng một lúc, và trong kinh T
ăng
Chi IV, Ngài công bố biết
được tất
cả những gì có thể thấy, nghe, và nhận thức, mà theo truyền thống
Thượng Tọa Bộ,
điều này
được hiểu là xác nhận về toàn tri.
3. Ðây là loại toàn tri mà vị thầy Ni kiền tử tự cho mình có
được, theo kinh 14.
4. Kết sử tại gia có nghĩa là sự ràng buộc
đối với các vật dụng của một gia chủ như
đất, đồ trang sức, tài sản, ngũ cốc… Luận nói, mặc dù kinh này có
đề cập vài người cư sĩ
đắc quả A La Hán, nhưng khi ở đạo lộ A La
Hán, họ đã phá hủy tất cả ràng buộc với các vật thế gian và như
vậy hoặc họ xuất gia làm tỳ kheo, hoặc từ trần ngay sau khi chứng
đắc. Vấn đề A la hán cư sĩ được bàn
trong Kinh Milinda Vấn Đạo (Milinda Panha), câu 142, "Về cư sĩ A la
hán".
5. Vì ông này tin hiệu quả của nghiệp, nên ông không thể theo thuyết
định mệnh chính thống của giáo phái ông,
một giáo phái phủ nhận hiệu quả của nghiệp và những hành
động cố ý trong việc thay đổi số phận con
người. Theo kinh sớ, vị này
đời
trước là một bồ tát.
Trích Trung Bô Kinh Toát Yếu
Ni Sư Trí Hải biên soạn
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-08.htm