May 2, 2011

THẦM LẶNG - Doãn Kim Khánh


Một đời thầm lặng mẹ theo bố.

Tháng 9 năm 1954 mẹ theo bố vào Nam. Trước đó bố hoạt động ngang dọc, sáng ngời lý tưởng rồi ê chề thất vọng. Quyết định vào Nam là của bố, mẹ chỉ bế hai con và dắt cô em chồng 17 tuổi theo. Trong Nam, bố tưng bừng thi thố tài năng, tay phấn tay bút. Mẹ thầm lặng ở nhà nuôi dạy con và chăm chút em. Dân số con từ hai tăng thành tám. Tám con tám tính, có lúc hư lúc ngoan; mẹ theo từng bước, khen chê mắng mỏ. Cô em chồng tốt nghiệp đại học, chuẩn bị lên xe hoa, mẹ lo toan chuyện cưới hỏi. Bố vất vả bên ngoài, về nhà chỉ cần đảo mắt nhìn là thấy mọi sự tươm tất. Ra đường, các con được gọi là “con bố”, em là “em anh”, không ai biết có một nhân vật thầm lặng đã làm nên những con người ấy.

Vào những năm thăng tiến trong cả hai nghề dạy và viết, bố hay mời khách về nhà đãi đằng. Mẹ tiếp khách lịch thiệp, rồi rút về hậu trường trổ tài nấu nướng. Trước khi ra về các bác bao giờ cũng chào “bà chủ” trong tiếng cười hỉ hả “Cám ơn chị cho một bữa ngon quá.” Thỉnh thoảng có những vị khách nữ, khen thức ăn và khen cả ông chủ. Tôi còn nhớ có người còn nói rất chân tình với mẹ: “Chồng em mà được một phần của anh thì em chết cũng hả.” Hình như mẹ đón nhận lời nói ấy như một sự khen tặng cho chính mình.

Rồi chính sự miền Nam nóng bỏng; ngòi bút bố cũng nóng theo. Các bạn bố đến chơi chỉ bàn chuyện cộng sản và quốc gia. Mẹ không mấy quan  tâm đến “chuyện các ông”, nhưng khi bố đi Mỹ du học, mẹ ở nhà điều hành việc bán sách thật tháo vát. Khoảng hai tuần một lần, mẹ đi xích lô đến trung tâm Saigon, rảo một vòng các tiệm sách để xem họ cần thêm sách nào. Sau đó mẹ cột sách thành từng chồng và “đáp” một chuyến xích lô khác để giao sách. Tôi hay mân mê những sợi giây được cột chắc nịch, suýt xoa: “Sao mẹ cột chặt hay thế?”

Thế rồi chính sự miền Nam đến hồi kết thúc. Con người không chính trị của bố lại một lần nữa ê chề. Ngày công an đến bắt bố đi, mẹ con bàng hoàng nhìn nhau. Các con chưa đứa nào đến tuổi kiếm tiền. Mẹ xưa nay thầm lặng trong vai “nội tướng”, giờ miễn cưỡng ra quân. Tiền dành dụm của gia đình không đáng kể. Có tám miệng để nuôi, có bố nhục nhằn trong lao tù đợi tiếp tế. Mẹ vụng về tìm kế sinh nhai. Thoạt tiên mẹ nấu khoai mì trộn với dừa và vừng, rồi để vào rổ cùng với một ít lá gói. Tôi băn khoăn hỏi:
“ Mẹ nghĩ có bán được không?”
“Mẹ không biết, cứ mang ra chỗ trường học xem sao.”
Nhìn dáng mẹ lom khom ôm rổ, đầu đội xụp cái nón lá, tôi thương mẹ khôn tả. Chỉ nửa tiếng sau tôi đã thấy mẹ trở về. Rổ khoai mì vẫn còn nguyên, mẹ ngượng ngập giải thích:
“Hình như hôm nay lễ gì đó, học trò nghỉ con ạ.”

Rồi mẹ lại xoay sang nghề bán thuốc lá. Mẹ mua lại của ai đó một thùng đựng thuốc lá để bầy bán. Mẹ nghe ai mách bảo, chọn một địa điểm khá xa nhà rồi lụi hụi dọn hàng vô, dọn hàng ra mỗi ngày. Nghề này kéo dài được vài tháng. Mẹ kể cũng có một số khách quen, nhưng toàn mua thuốc lá lẻ. Hôm nào có khách “xộp” mua nguyên bao thì mẹ về khoe ngay. Cũng may thuốc lá không thiu nên khi “giải nghệ” mẹ chỉ lỗ cái thùng bầy hàng.

Mẹ rút về “bản dinh” là căn nhà ở cuối hẻm, tiếp tục nhìn quanh, tìm một lối thoát. Hàng xóm chung quanh phần lớn là những người lao động. Họ như những đàn kiến chăm chỉ cần cù, 4 giờ sáng đã lục đục, người chuẩn bị hàng họ ra chợ, kẻ kéo xe ba bánh hoặc xích lô ra tìm khách. Suốt mười mấy năm qua họ nhìn gia đình chúng tôi, gia đình “ông giáo”, như  từ một thế giới khác, kính trọng nhưng xa cách. Nay “ông giáo” đi tù, “bà giáo” hay xuất hiện ngoài ngõ, có lẽ họ cảm thấy gần gủi hơn. Một hôm, chị bán sương xâm ở đối diện nhà qua hỏi thăm “ông giáo”. Thấy cái máy giặt vẫn còn chạy được, chị trầm trồ: “Giặt máy tiện quá bác há!”, rồi nảy ý “Tụi con ngày nào cũng có cả núi quần áo dơ. Bác bỏ máy giặt dùm, tụi con trả tiền. Bác chịu không?”  Lời đề nghị thẳng thừng, không rào đón. Mẹ xăng xái nhận lời. Kể từ đó, mổi tuần khoảng hai lần, mẹ nhận một thau quần áo cáu bẩn, bốc đủ loại mùi khai, tanh, nồng. Mẹ đích thân xả qua một nước, rồi múc nước từ hồ chứa vào máy giặt, bỏ xà bông và bắt đầu cho chạy máy. Cái máy cổ lỗ sĩ, chạy ì ạch nhưng nhờ nó mà mẹ kí cóp được chút tiền chợ.

Ít lâu sau, cũng chị hàng xóm đó lại sáng thêm một ý nữa:
“Con bé nhà con nay biết bò rồi, con không dám thả nữa. Bác nhận không, con gửi nó mỗi ngày từ sáng tới chiều. Con trả tiền bác.”

Thế là sự nghiệp nhà trẻ của mẹ bắt đầu. Mẹ dọn căn gác gỗ cho quang, có chỗ treo võng, có cửa ngăn ở đầu cầu thang. Cả ngày mẹ loay hoay bận bịu pha sữa, đút ăn, lau chùi những bãi nước đái. Được ít lâu, chị bán trái cây ở cuối hẻm chạy qua nhà tôi, nói:
“Bác coi thêm con Đào nhà con nha. Con mang cái võng qua mắc cạnh cái võng của của con Thủy.”
Hai võng đong đưa một lúc, cháo sữa đút liền tay hơn, căn gác bừa bộn hơn. Sau đó lại thêm một thằng cu nữa. Mẹ tay năm tay mười, làm việc thoăn thoắt. Cũng công việc quen thuộc ấy, ngày xưa làm cho con, nay làm kế sinh nhai, nuôi đủ tám con với một chồng. Mẹ không còn thầm lặng nữa. Mẹ lớn tiếng điều khiển tám quân sĩ, cần roi có roi, cần lời ngọt có lời ngọt. Riêng chúng tôi vẫn nhớ ơn những người lao động đã giúp chúng tôi sinh sống những ngày khốn khó đó. 
Nhưng sau những giờ ban ngày ồn ào náo động là những đêm tối trầm ngâm lo lắng. Nỗi bận tâm không rời của mẹ là chuyện thăm nuôi bố. Mỗi ngày mẹ nghĩ ra một món, làm dần vào buổi tối, nay muối vừng, mai mắm ruốc, mốt bánh mì khô. Mẹ để sẵn một giỏ lớn trong góc bếp và chất dần đồ thăm nuôi trong đó. Khi giỏ đầy là ngày thăm nuôi sắp tới. Thuở ấy bố bị giam ở núi đồi Pleiku, muốn lên đến đó phải mất hai ngày đường và nhiều giờ chầu chực xe đò. Mỗi lần thăm nuôi, hoặc mẹ, hoặc một đứa con được chỉ định đi. Con trưởng nữ hay được đi nhất vì nó tháo vát và nhanh trí, thằng thứ nam cũng đươc nhiều lần “tín nhiệm”; mẹ nói nó nhỏ tuổi nhưng đạo mạo, đỡ đần mẹ được. Con thằng trưởng nam đúng tuổi đi “bộ đội”, mẹ ra lệnh ở nhà. Có lần mẹ đi về, mặt thất thần. Các con hỏi chuyện thì mẹ chỉ buông hai chữ “biệt giam”. Biệt giam thì bị trừng phạt không được thăm nuôi. Tôi thảng thốt hỏi:
“Đồ thăm nuôi đâu hết rồi mẹ?”
“Mẹ phải năn nỉ. Cuối cùng họ hứa chuyển đồ ăn cho bố.”
“Mẹ nghĩ họ sẽ chuyển không?
“Họ hẳn sẽ ăn bớt, nhưng nếu mẹ mang về thì phần bố đói còn chắc chắn hơn nữa.”
Mẹ ngày nào thầm lặng, nay thực tế và quyết đoán như thế.
Ngày bố được thả đợt 1, nhà trẻ của “bà giáo” vẫn còn hoạt động. Mẹ hướng dẫn bố đu võng khi các bé ngủ. Mẹ cũng dặn bố thường xuyên lau chùi gác và bỏ giặt tã dơ. Bố một mực nghe lời. Tưởng như cờ đã chuyền sang mẹ một cách êm thắm…
Tuy nhiên, mẹ không thể ngăn được bố lân la cầm lại cây bút. Thời gian này là lúc họ hàng ngoài Bắc vào chơi nhiều. Bên ngoại có cậu tôi làm đến chức thứ trưởng; cậu kể rằng lúc còn sống, ông ngoại (một nhà thơ cách mạng)  phiền lòng vì sự nghiệp văn chương của thằng con rể. Bên nội có chú tôi - một nhạc sĩ cách mạng- chú biết ngòi bút đang thôi thúc bố và đã từng rít lên giữa hai hàm răng:
“Trời ạ! Đã chửi vào mặt người ta, không xin lỗi thì chớ lại cón nhổ thêm một bãi nước bọt! Lần này mà vào tù nữa thì mọt gông.”  .
Mấy mẹ con chết lặng trước viễn tượng “mọt gông”. Bố không màng đến điều này, vẫn miệt mài gõ máy đánh chữ. Đêm khuya thanh vắng tiếng gõ càng vang mồn một. Vài lần mẹ can ngăn, có lần mẹ giận dữ buộc tội:
“Ông chỉ biết lý tưởng của mình, không biết thương vợ con.”
Vài tuần sau, chị hàng xóm đối diện nhà chạy sang xì xào với mẹ:
“Công an đặt người ở bên nhà con đó bác, họ theo dõi bác trai.”
Mẹ lại thử can thiệp, nhưng đã quá trễ. Bố bị bắt lần thứ hai năm 1984. Lần thứ hai bị bắt, bố bình tĩnh đợi công an lục lọi tung nhà. Trước khi bắt đi, họ chụp hình bố với nhiều tang chứng chung quanh. Trong hình  bố ngẩng cao đầu trông rất ngạo nghễ. Nhiều năm sau, bố vẫn còn được nhắc tới với hình ảnh này. Không ai biết đến người đàn bà thầm lặng bị bỏ lại đằng sau. Sau biến cố thứ hai này, mẹ phải đối phó thêm với nhiều khó khăn loại khác, điển hình là những giấy gọi gia đình ra dự phiền tòa xử bố. Gọi rồi hoãn, rồi lại gọi lại hoãn. Mỗi lần như vậy cả nhà lại bấn loại tâm trí, lo cho mạng sống của bố. Riêng mẹ thì vừa lo vừa soạn thêm một số thức ăn thăm nuôi. Mẹ thực tế là thế đó.
Sau khi bố bị gọi án 10 năm tù, cuộc sống của mẹ không còn những bất ngờ khủng khiếp, chỉ còn những đen tối và tù túng đều đặn. Tưởng là dễ chịu hơn, nhưng thực ra nó gậm nhấm tâm thức, tích lũy buồn bực chỉ đợi cơ hội bùng nổ. Hết ngày này qua tháng nọ mẹ lầm lũi chuẩn bị đồ thăm nuôi, từng món ăn thức uống, từng vật dụng hằng ngày. Các con lần lượt trưởng thành, đứa nào cũng có bạn bè và những sinh hoạt riêng. Chuyện thăm nuôi bố và lòng thương bố quan trọng lắm, những cũng chỉ là một phần trong những cái quan trọng khác trong đời. Chỉ đối với mẹ, những thứ ấy mới là tất cả, độc tôn choán ngập tâm hồn mẹ. Mẹ hẳn có những lúc thấy tức tưởi và cô đơn mà các con nào hay biết. Có vài lần chúng tôi lỡ một lời nói hoặc cử chỉ không vừa ý mẹ, me òa khóc tu tu, lớn tiếng kể lể, tuôn trào như một giòng lũ không ngăn được. Lúc ấy chúng tôi mới choàng tỉnh.

Ngày mãn hạn tù về, bố bình an như một thiền sư, để lại sau lưng hết cả những thăng trầm của quá khứ. Rồi bố mẹ sang Mỹ ở Houston sống cùng cậu trưởng nam. Mẹ bận bịu với cháu nội, nhưng không quên nhắc ông nội đi tắm và bao giờ cũng nặn kem đánh răng vào bàn chải cho ông mỗi tối. Thỉnh thoảng giao tiếp với họ hàng và bạn bè, mẹ lại phải đỡ lời cho bố, khi bố cứ mỉm cười mà không nói năng chi. Thư viết về cho con cháu ở VIệt Nam, ai cũng nói mẹ viết hay hơn ông nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Lúc đó chắc mẹ nghĩ thầm rằng: “bởi vì mẹ là con của ông Tú Mỡ mà!”

Như thế được mười năm thì mẹ ngã bệnh. Hôm nay, ở giai đoạn cuối của căn bệnh Alzheimer, mẹ nằm bất động một chỗ và không nói được nữa. Nhưng mẹ vẫn đưa mắt nhìn bố mỗi lần bố ra vào trong phòng. Hôm nào bố vắng nhà vài ngày thì mẹ nhìn con trai, mắt dò hỏi lo lắng. Khi bố về thì mẹ vẫn nhìn bố, ánh mắt yên tâm hơn. Mẹ thầm lặng hơn bao giờ hết. Dưới mắt bố con chúng tôi, sự thầm lặng ấy càng ngày càng tỏa sáng.
Doãn Kim Khánh
http://www.vietbao.com/D_1-2_2-92_4-174228_5-50_6-1_17-133_14-2_15-2/



PHOTOGRAPHY : Côn Đảo - Minh SAN




Văn xuôi - văn vần - DOÃN QUỐC THÁI


DÌ ÚT

Nhà em có nuôi một dì Út.
Tuy nó lùn nhưng nó cao hơn đèn neon 1m20 và hát rất hay.
Vì dì ở tuổi mộng mơ nên cây đào của dì trông rất xanh tươi và đâm hoa kết trái rất bạo.
Cây đào của dì Út, tuy cũng lùn như chủ của nó, nhưng được cái rất sai trái (tức là nhiều trái chứ không phải tầm bậy)
Kết luận: dì Út của nhà em rất có lợi cho việc chăn nuôi ☺
Xin chào đoàn kết và thắng lợi.

PS: cây đào của Út chính là Nectarine nhưng chỉ để ngắm thôi (nhạt nhách à, không có chua nên không mắc công làm muối ớt !!!! Hôm nay phải khoe thêm rằng cây lựu của bác Thanh cũng tươi tốt và ra rất nhiều hoa lựu … đạn.  Tính làm bài văn xuôi tả bác Thanh nhưng sợ phạm thượng, nên thôi làm thơ vậy:

CHỊ CẢ

Nhà em có chị cả
Các con đều lớn cả
Nên chị được thong thả
Dáng chị thật đon đả
Giọng cười chị rôm rả
Tiếng nói rất xa xả
Nên vừa lòng anh cả
Anh làm bò nướng xả
Nhậu lair ai thật đã
Cho vui đời phây phả
Chiều nay lục gia phả
Rất mừng có chị cả
Với tấm lòng cao cả.

Thi sĩ DQThái 

Apr 28, 2011

PHÓNG SỰ HÌNH - William , To Love , To Honour, To Keep (But not To Obey) ... - ANH QUÂN


Giới truyền thông trên thế giới đã xuất hiện trên đường phố London. Đi tìm người phỏng vấn. Cô bé người da nâu là phóng viên của đài ABC . Người chụp cũng rán chui tọt vào ống kính, không biết có được thu hình qua Mỹ không :)Sau khi làm lễ xong, xe ngựa sẽ chở chú rể và cô dâu về điện  Buckingham, con đường vào điện.  Sau đó cả gia đình Hoàng Gia và hai đứa  nhỏ mới cưới nhau sẽ lên chào dân chúng.

2 tấm hình là gồm khán đài dành riêng cho truyền thông, còn lại là các phóng viên đi làm việc.


Nhờ đông người , nên có người đi kiếm ăn là bán cờ và bán áo 



Cắm lều, ngủ qua đêm để sáng dậy có một vị trí tốt mà xem gia đình Hoàng Gia, chú rể, cô dâu ngồi trên xe ngựa.  Vào lúc 6 giờ chiều tại London, người xem đã chiếm hết các chỗ tốt.

Bà Hương,
Sorry nghen. Bạn của bà làm biếng, không giữ chỗ cắm lều để mai chụp hình cô dâu chú rể.  Bà chịu khó coi TV ngày mai nhé.

Quân 



Trong khi chờ đợi, kiếm chuyện tự giải trí







  

Apr 26, 2011

36 NĂM NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI, NGHĨ VỀ CỘNG ĐỒNG, NGHĨ VỀ TỔ QUỐC

Năm nay đã là năm thứ 36 người Việt hải ngoại kỷ niệm Tháng Tư Đen. Khắp nơi trong Little Saigon, cộng đồng hiện đang có nhiều sinh hoạt liên quan đến biến cố lịch sử này.
Mời quí độc giả nghe ý kiến của ba cư dân Việt ở hải ngoại nói về cộng đồng, về tổ quốc sau 36 năm mất nước. Một người ở Mỹ, một người ở Úc, và một người ở Anh...

 Người Việt Bolsa kỷ niệm 36 năm Tháng Tư Đen

Chị H. –hiện ở Quận Cam Cali:

Sau 30 năm, cộng đồng người Việt Quận Cam đã phát triển thành cộng đồng lớn nhất ngoài nước Việt Nam. Sự lớn lên đó kèm theo cả điều tốt lẫn điều không tốt. Cộng đồng mình quá phức tạp, có lẽ nguyên nhân chính vẫn là do những vết thương của một lịch sử chiến tranh, đau buồn để lại.

Bộ mặt chính của cộng đồng thông qua khu vực Little Saigon bây giờ sáng sủa hơn  xưa nhiều. Nhớ ngày xưa, cửa hàng nhỏ, mặt hàng kinh doanh buôn bán cũng nghèo nàn. Bây giờ thì người Việt làm đủ thứ ngành nghề kinh doanh rồi. Người Mỹ có gì, mình có đó. Nhớ hồi xưa đã có người từng nói đùa là: “…business của người Việt  chỉ còn thiếu có mỗi… nhà quàn thôi!...”, mà bây giờ mình cũng đã có rồi. Hồi xưa, dân mình chỉ lo đi làm, kiếm tiền mua nhà, lo cho gia đình. Bây giờ dân Việt cũng đã bắt đầu thong thả, biết hưởng thụ hơn. Nhớ hồi xưa, cửa tiệm của tôi ngày lễ không dám nghỉ, vì khách đông lắm. Còn bây giờ, ngày lễ khách cũng đi chơi, có mở cũng vắng khách, cho nên có thể đóng tiệm nghỉ ngơi được.

Có một số thói quen không tốt theo sự phát triển của cộng đồng mà từ từ mất đi. Một thí dụ là ở các văn phòng bác sĩ. Trước đây, bác sĩ là vua. Đi bác sĩ phải xếp hàng chờ đợi. Bệnh nhân còn bị nạt nộ, sợ bác sĩ như hồi còn ở Việt Nam. Bây giờ thì đỡ rồi. Khách hàng ở Mỹ là thượng đế mà. Những bác sĩ trẻ ra trường ở Mỹ theo phong cách làm việc của Mỹ, đối xử với bệnh nhân lịch sự hơn. Nhưng cũng có những tật xấu lại phát triển khi cộng đồng lớn ra. Thí dụ như tật xả rác. Khi cộng đồng mình ở co cụm lại với nhau, thì người dân cảm thấy thoải mái như kiểu xóm làng ở Việt Nam, do đó không muốn thay đổi những thói quen cũ. Chứ hồi xưa khi còn ít người Việt, ai mới đến cũng muốn học cách sống văn minh, trật tự của người Mỹ, muốn nhập gia tùy tục để được người Mỹ tôn trọng. Đã có ý kiến nói rằng người Việt nên ở xa nhau ra một chút, ở lẫn vào chung với người Mỹ thì có lẽ sẽ tốt hơn. Tệ hơn nữa, hiện nay đã có một số biểu hiện “văn hóa luật rừng”, hay “tiền là tiên là phật ” kiểu dân “Hà Nội mới” xuất hiện ngay giữa cộng đồng. Mong rằng nền văn hóa cũ đủ mạnh để đồng hóa những hành xử kém văn hóa này.

Những sinh hoạt cộng đồng cũng thay đổi nhiều. Lấy phong trào hướng đạo là một ví dụ. Những năm tháng đầu tiên, phong trào hướng đạo Việt Nam tại hải ngoại được gây dựng bởi những cựu trưởng, đoàn sinh từ Việt Nam sang. Mọi người tham gia sinh hoạt đều hăng hái, tự nguyện. Rồi sau đó một thời gian, phong trào yếu đi vì những người này bận làm ăn, sinh sống. Chỉ mới hơn10 năm đổ lại đây, phong trào mới phát triển mạnh mẽ trở lại, bởi vì những bậc phụ huynh bắt đầu để ý tới con cái hơn, biết hướng đạo là môi trường tốt nên dắt chúng đi, cho dù các em có thể không thích. Các trưởng cũ đã vượt qua được giai đoạn tập trung kiếm sống, nên có thể dành nhiều thời gian hơn cho đoàn sinh.

Còn chuyện chính trị? Lấy ngày 30-04 làm ví dụ. Nhiều người lo tưởng niệm, tổ chức biểu tình, hô hào tranh đấu. Năm nào đến ngày này, gia đình tôi cũng vào Bolsa dự một sinh hoạt nào đó. Nhưng cũng có người thờ ơ, chẳng còn quan tâm nữa. Nhiều người vẫn lo lắng cho Việt Nam, nhưng cũng có người không còn muốn bận tâm gì đến cái quê hương khốn khổ, tuyệt vọng, ngoài tầm với. Hết thuốc chữa rồi. Tôi có mấy đứa cháu ở Hà Nội sang Mỹ du học. Đứa nào cũng xoay sở để ở lại, và đó là lời khuyên của cha mẹ chúng, đều là đảng viên nhưng trong sạch. Người trong nước còn thờ ơ, thì người ở ngoài làm gì được?

Người Việt cùng đón Tết cổ truyền ở Luân Đôn

Anh Q. – hiện ở Anh Quốc:

Đến ngày hôm nay, Cộng Đồng người đi từ Việt Nam tại Anh quốc đã chia thành 4 nhóm khác nhau.
Nhóm thứ nhất là thuyền nhân tị nạn, bắt đầu đến Anh vào năm 1975 cho đến 1989. Đông nhất là người Việt gốc Hoa từ miền Bắc Việt Nam.
Nhóm thứ nhì là người Việt đi thẳng vào Anh xin tị nạn. Họ bắt đầu vào Anh từ năm 1994,  họ đi một đoạn đường dài bằng máy bay, xe hơi, xe lửa và đi bộ. Có người đi mất vài tuần, có người mất vài tháng và có người mất cả năm. Nhóm này đa phần là người từ Nghệ An, Hà Tỉnh và Quảng Bình. Nhóm người này bị gọi là “Người Rơm” và “Người Rừng”.

Nhóm thứ ba là từ Đông Âu, nhờ công đồng âu châu nay đã thống nhất, những người Việt có giấy định cư tại Tiệp khắc, Ba Lan, Hungary... họ có thể qua đây sinh sống. Toàn nhóm người này đều là từ miền Bắc Việt Nam.

Nhóm thứ tư là nhóm du sinh Việt Nam. Khác với các du sinh Việt Nam ở Hoa Kỳ, Uc, Canada... thành phần du sinh này khác đặc biệt là khá nhiều con cái lãnh đạo của chính phủ Việt Nam đang học tại Anh như con trai út của Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng, con của cựu Thủ Tướng CSVN Phan Văn Khải. Gần đây nhất ai cũng nghe chuyện hối lộ in tiền của cựu thống đốc ngân hang Việt Nam ông Lê Đức Thúy, nhờ đó con gái ông có chỗ đi Anh du học. Khá nhiều con cái của các vị Đại Sứ Việt Nam tại Nga, tại Ba Lan, tại Tiệp... cũng du học ở Anh. Con cháu của các vị lãnh đạo này qua đây học phải lo hoạt động cộng đồng sinh viên, vì trong đó có cả bí thư Đoàn CSHCM hoạt động chung với nhóm này. Tuy họ tuyên bố hoạt động sinh viên, nếu theo dõi kỹ thì họ muốn tạo ảnh hưởng trong cộng đồng Việt Nam.

Bởi vậy chữ “Người Việt Quốc Gia” giờ khó mà còn được nghe trong sinh hoạt cộng đồng tại Anh. Lá cờ vàng ba sọc đỏ càng khó tìm thấy trong các buổi sinh hoạt tập thể. Nhớ lại vào thập niên 80 không khí sinh hoạt cộng đồng người Việt quốc gia vô cùng sôi nổi. Các cuộc biểu tình 30/4 của người Việt quốc gia được bắt đầu vào năm 1985. Lúc đó không khí rất mạnh, đến cả ngàn người cầm cờ vàng đi trên thành phố London. Một cuộc đi bộ biểu tình đi đến 15 miles. Chẳng những ngày 30 tháng 4 biểu tình mà ngày 2 tháng 9 cũng biểu tình, có những cuộc biểu tình lên đến mức cao độ, gây sự bực mình cho tòa Đại Sứ CSVN .Một tùy viên đại sứ tên Thân Nhân Khang, cầm khẩu súng ra hâm dọa , thế là hắn ta bị trục xuất ra khỏi Anh quốc vào ngày hôm sau vì tội cầm vũ khí. Thời đó các hội đoàn đứng rất gần với nhau như Tổng Hội Sinh Viên, Hội Cựu Quân Nhân VNCH, Hội Thanh Niên tị nạn, Mặt Trận Kháng Chiến...

Bây giờ thì hết rồi. Dân nhập cư sau này không thiết tha công việc xã hội và chính trị. Vấn đề quan trọng của họ là tài chánh. Mình không nói họ sai, nhưng vì hơn 20 năm họ sống trong chế độ CS ngoài bắc, họ đâu được phép nói, họ phải tìm mọi kẻ hở của xã hội mà sống, vì vậy nên đạo đức con người dần dà mất đi, họ chỉ biết sống theo chủ nghĩa cá nhân mà sinh tồn. Đối với họ chữ “Quốc Gia” hay “Cờ Vàng” chẳng có một ý nghĩa gì hết. Còn Cộng Sản Việt Nam thì họ không muốn nói tới, họ cũng không muốn theo.

Nghĩ về Việt Nam? Đảng CSVN có tất cả. Ngân sách trong tay họ, tài nguyên quốc gia trong tay họ, vũ khí trong tay họ, quân đội trong tay họ và cả lực lượng công an, mật vụ trong tay họ. Vậy toàn bộ lá bài là thuộc hết về họ. Nhiệm vụ của họ là chơi lá bài cho thật đẹp, lèo lái đất nước Việt Nam cho khéo. Vậy mà họ đã không đem Việt Nam trở thành một con Rồng châu á sau 36 năm qua. Một thất bại hoàn toàn. Hy vọng một tương lai tươi sáng cho Việt Nam là một giấc mơ còn quá xa. Đúng là “Đường đi không đến”...
 Huy hiệu Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu
 
Anh G. – hiện ở Úc Đại Lợi

Cộng đồng tị nạn  tại Úc khác với cộng đồng nhiều nước trên thế giới. Lý do là cộng đồng người Việt tại Úc hầu hết là dân tị nạn đến Úc sau 30/4/75 khoảng  vài năm. Họ đã sống với cộng sản, nên hiểu rõ thế nào là Việt cộng, không còn mơ hồ gì về Việt cộng . Đây là lý do chính cho sự đoàn kết cuả cộng đồng người Việt tại Úc.

Ngay từ những ngày đầu đại diện cộng đồng người Việt tự do tại Úc không điều hành bởi những ông tướng tá nên có nét quần chúng hơn. Cho đến nay cộng đồng ngừơi Viêt tại Úc đã có hai vị chủ tich cộng đồng là luật sư trẻ tốt nghiêp tại Úc, mà  các cộng đồng Mỹ và Âu châu chưa có, Họ đã làm việc tích cực và cùng với cộng đồng tranh đấu cho nền dân chủ và Tự do cho VN.

 Sau 36 năm, một thời gian dài, nhưng cộng đồng người Việt tại Úc năm nào cũng từ các tiểu bang về tập trung tại trước tòa đại sứ VC tại Canberra để tỏ thái độ không chấp nhận sư độc tài cuả VC trên đất nước và vẫn còn tiếp tục tranh đấu cho một VN tự do.

Tại Úc một số lớn tuổi đã ra đi nhưng những thành phần trẻ vẫn tiếp tục con đường của cha ông vận động tranh đấu cho một VN  tự do, điều này là niềm hãnh diện cho cộng đồng Viêt Nam taị Úc.Thế hệ này sinh tại VN và lớn lên tại Úc nên còn nói tiếng Việt và đã vào chính mạch trong xã hội sở tại - nay làm việc trong cộng đồng thì được lợi cả 2 đường: vẫn là cánh tay nối dài của thế hệ trước, và đủ trình độ để liên lạc uyển chuyển với chính phủ Úc để bảo vệ và nói lên tiếng nói của cộng đồng mình.  Vì vậy CĐVN bao giờ cũng được 2 chính đảng Tự Do và Lao Động "cưng" và chào mời để kiếm phiếu - tỉ như cho xây dựng tượng đài chiến sĩ ở Cabramatta, Bankstown Plaza (1 quận đông người Việt) được đổi thành SaiGon Plaza... 

Nhìn về VN sau 36 năm thì lại càng mịt mù cát chạy đá bay ... Cha ông chúng ta đã đổ máu để dựng nước và giữ nước thì nay giới lãnh đạo không chỉ ăn ruỗng đất nước, mà tiến tới cùng cực là bán nước cho Tàu, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.  Nhìn bọn Tàu bủa vây kinh tế, lấn đất và chiếm biển một cách vừa trắng trợn vừa kín đáo,  thấy dân đen VN chỉ có từ chết tới chết, giống hệt Tây Tạng thôi.   Chỉ còn mong hồn thiêng của giống nòi run rủi - tới hồi đất nước bỉ cực thì nảy sinh anh tài, có được một Hội Nghị Diên Hồng mà thay đổi lại vận mạng. Việt Nam trong một vài năm nữa chắc sẽ xụp đổ về kinh tế vì sự lãnh đạo kém cỏi cuả nhà cầm quyền. Với phong trào đấu tranh đòi tự do trên toàn thế giới và ở VN,  hy vọng sẽ có ngày  dân VN có tự do .
 
VB

Apr 21, 2011

Bí quyết làm lãnh đạo ?


Chính là phải đội mũ lệch!


Khi đội mũ lệch, lãnh đạo ...

... không đi sai đường,

không phường nào buồn được cả!

Apr 20, 2011

Người đàn bà còn ở lại - Anh Quân

Bà Hương,

Nhìn ảnh mẹ bà mà tui cứ nhớ chuyện xưa (chuyện đã kể cho bà rồi mà tui không quên được chuyện cũ). Hồi đó bọn con trai trong lớp vào buổi chiều hay rủ nhau đi tắm hồ, mà lại khoái đi xa là đi tuốt xuống hồ bơi Phú Lâm để tắm. Thời gian năm 1977, hệ thống xe buýt cũ của Sài Gòn vẫn còn chạy, các tuyến đường chính vẫn còn xe, nhờ đó bọn tui mới đi xa được. Chì nhất vẫn là tui, nhà tận bên Tân Thuận, ngồi xe buýt đến trường Sư Phạm Thực Hành, rồi cùng nhau đi xe tiếp xuống tận Phú Lâm.

ở cái tuổi đó bọn tui làm gì có tiền, đi chơi như vậy là xin tiền cha mẹ, nên có đi chơi chẳng thằng nào bao thằng nào, mạnh đứa nào tự mà lo lấy thân. Đi bơi xong, leo xe quay lại vể đường Trần Bình Trọng, tui thì lo được phần tui, nhưng có tên Phong Thái đi chung, nó hết tiền mua vé xe. Bà bán vé cứ đòi đuổi nó xuống, nhưng nó cứ lì hổng chịu xuống, mà con năn nỉ xin đi nữa, thế là bà bán vé với nó cứ cò cưa trên xe. Xem ra bà ta bắt đầu thua nó vì xe đến đường Trần Bình Trọng càng lúc càng gần.

Khi xe đến khúc đường Hùng Vương, xe chống chỗ, Thái ta tỉnh bơ ngồi xuống cho đỡ mỏi chân, thì có người phụ nữ tuổi trung niên bước lên xe, trên tay cầm túi xách, tóc bà bị ướt vì cơn mưa tháng 9, nhìn bà ta rất trầm, có một chút nghiêm nghị, nhẹ nhàng ngồi xuống ghế. Thái mới nói nhỏ vào trong tai tui là "Má của Thanh Hương đó". Lúc đó tui để ý kỹ hơn nữa. Tui nhìn thấy nét điềm đạm, nhưng khuôn mặt có một cái gì mệt mỏi , nhất là ánh mắt có chút gì ưu tư và lo lắng.

Hình ảnh của mẹ bà đúng nhà diễn tả "Người đàn bà còn ở lại"... Đó là lần đầu tui thấy mẹ bà mà thời gian trôi qua là 34 năm mà tui vẫn không có cơ hội gặp mẹ bà để nói tiếng Chào Bác. Tuy nhiên hình ảnh ngày ấy tui gặp mẹ bà mà đến giờ tui vẫn không quên được.

Được gần mẹ là niềm vui đó , hãy tận hưởng những gì mình có đi nha.

Thân

Quân