Apr 20, 2011

Cùng mẹ nghe pháp


- Mẹ nghe giống Út nghe không?
- Giống chứ .. nhưng mà ....

zzzzz
Pháp ru mẹ ngủ :)

Apr 18, 2011

Run for fun - Run for charity - ANH QUÂN



London Marathon 2011 đã được tổ chức vào ngày Chủ Nhật 17 tháng 4. Có tất cả 36,500 người tham dự một trong những giải chạy bộ lớn nhất của hành tinh của chúng ta. Năm ngoái người viết đã viết về giải Marathon, nên lần này xin thuật lại một số sự kiện về Marathon 2011.

 Về nhất giải nam là anh Emmannuel Mutai là người Kenya, anh đã phá kỷ lục quốc tế là 2g 4 phút và 39 giây.

Về nhất giải nữ cũng là người Kenya là cô Mary Keitany , cô chạy mất 2 giờ 19 giây và 17 phút.

 Những điều đáng nhớ của Marathon 2011

- Cựu cảnh sát là anh David Rathband, 43 tuổi, trong một lần công tác, anh bị kẻ ác tấn công bị mù đôi mắt, anh đã tham dự giải Marathon năm nay. Anh mất hết 6 giờ 49 phút để chạy đoạn đường dài 26.2 miles.

- Cựu vô địch chèo thuyền trong các giải Olympic là anh James Cracknell, năm ngoái vào tháng 7 bị tại nạn trong chuyến đua xe đạp tại Hoa Kỳ, đã ảnh hưởng tới não bộ của anh. Sau khi bị nạn, anh không bỏ cuộc rán luyện lại sức khoẻ để chạy Marathon. Người chèo thuyền 38 tuổi đã mất hết 3 tiếng 3 phút. Anh đã xin lỗi là anh không thể chạy nhanh hơn được vì lý do sức khoẻ.

- Một đôi nam nữ chọn ngày 17 tháng 4 để kết hôn, mà cả hai là dân chạy bộ nên không muốn hụt giải Marathon 2011. Nên cả hai đã quyết định chạy, khi chạy được 20 miles, cả hai chạy vào khách sạn Marriott, nơi đó thân nhân cả hai họ đều có mặt để làm chứng đôi nam nữ là anh Andrew Ford và cô Katrina Scaife ký giấy hôn thú, đeo nhẫn và sau đó cả hai chạy tiếp 6.2 miles còn lại.

- Đã nhiều tổ chức từ thiện đã tham dự giải Marathon 2011. Năm nay họ đã thu được 47.2 triệu Anh kim (khoảng 70 triệu mỹ kim) để giúp đỡ các nhóm từ thiện trong và ngoài nước.

- Nếu ai thích nghe bài hát Leave Right Now thì sẽ thấy ca sĩ Will Young tham dự giải Marathon. Ngoài ra nhiều nhân vật nổi tiếng trong người mẫu, truyền hình, kịch, phim ảnh của Anh quốc đã cùng chạy với Will Young.

Xin hẹn sang năm sẽ tường thuật về London Marathon 2012.

Quân

 


 









Kinh Báo Ân Cha Mẹ



[...]

Đức Thế Tôn lại dạy : "A nan, Như Lai xét thấy chúng sinh tuy làm thân người, tâm trí vẫn còn tối tăm. Không biết ân đức cha mẹ cao dày. Không biết kính trọng, vong ân bội nghĩa. Không lòng mến thương, bất hiếu bất mục. Từ mẫu mang thai trong mười tháng tròn, đứng ngồi không yên, như gánh gánh nặng, ăn uống không xuống, như bệnh lâu ngày. Khi đủ ngày tháng, sắp sửa sinh con, thì đủ khổ sở, khiếp sợ tử thần, tánh mạng mong manh. Như vật bị hại, huyết chảy tràn đất : mẹ khổ đến thế mới sinh ra ta. Sinh rồi nuớt đắng nhổ ngọt, bồng ẵm nuơi nấng, không kể mệt nhọc, chịu nắng chịu mưa, không từ cay đắng. Chỗ khô con nằm, chỗ ướt mẹ lăn. Suốt trong ba năm, nhờ huyết sữa mẹ mới thành đứa bé. Đến khi khôn lớn, lo việc giáo dục, lo việc hôn nhân, kinh doanh sản nghiệp, tận tụy lao khổ. Khổ nhọc suốt đời, không kể công khó. Con cái tật bệnh, cha mẹ bệnh theo, bịnh con nếu hết, cha mẹ mới lành.

[...]

Trích bản dịch của HT. Thích Trí Quang


Apr 16, 2011

Photography - Le petit train chez Benjo - THANH TÙNG

Thiên đường của tuổi thơ...
không chỉ là nhà



mà còn là xe lửa ...


Tchou-tchou...

CHUYỆN VUI SẦU - Khánh Doãn


Nhớ xưa  Bùi Giáng hứa: “Tôi sẽ yêu mến trần gian này mãi mãi, vì nơi đây tôi có cả vui sầu”. Thật thương ông thi sĩ lấy vui sầu làm mồi thắp sáng lòng yêu mến trần gian. Phải chăng nhờ đó mà ông làm thơ hay? Thực ra, người Việt xa xứ chúng ta ai cũng có một bụng chuyện vui sầu, nhưng từ đó có yêu mến trần gian không là một chuyện khác. Tôi dạy học cho một tổ chức phi lợi nhuận của người Việt nên được dịp nghe tâm sự của nhiều người đồng hương. Tôi vẫn ao ước mỗi người đều có trong mình một ông thi sĩ, hay tiểu thuyết gia, hay đạo diễn thì đó sẽ là chất liệu cho bao nhiêu tác phẩm nghệ thuật, để mà từ đó chúng ta đem lòng yêu mến trần gian.

Câu chuyện sau đây được tôi theo dõi như một cuốn phim sống động. Tôi vẫn như còn nghe được từng lời tâm sự của nhân vật chính:
“Cô giúp tôi tìm thông tin trên mạng về mấy chuyến bay đi Hawai được không?”
“Bữa nay con gái chở đi học, tui hết đón xe “bớt” rồi.
“Con gái thi đậu bằng lái rồi. Đang tìm mua xe.”
“Con gái qua rồi. Đang học lái xe.”
“Tui lãnh đứa con gái độc thân, nó sắp qua.”
Cuốn phim quay nhanh, chiếu lùi trình tự những bước đời vui của một người Việt trên đất Mỹ, khớp với khẩu hiệu “Welcome to America”.

Người kể chuyện là một bác gái tuổi ngoài 70, mặt tròn phúc hậu. Bác là học viên trong lớp luyện thi quốc tịch của tôi. Bác và bác trai được con trai bảo lãnh qua Mỹ đã ngót mười năm, nay bác mới  được đoàn tụ với con gái. Nghe giọng miền Nam chân chất, nhìn nụ cười nhẹ nhàng quen thuộc tôi hiểu bác vui niềm vui chừng mực của người thất thập hiểu sự đời.

Trước khi con gái qua, bác chăm chỉ đón xe buýt đi học lớp luyện thi quốc tịch. Bác thà đi chuyến sớm bét để rồi ngồi ở băng ghế cuối hành lang ôn bài, còn hơn ở nán lại dọn dẹp nhà cửa rồi hồi hộp sợ lỡ chuyến xe buýt sát giờ. Bác tâm sự rằng đứa con gái mang sang một ít vốn liếng từ Việt Nam, đủ để mua một chiếc xe cũ. Mua xe của một người quen, chồng tiền rồi mà người ta còn nhì nhằng cả tháng mới giao xe. Ngày đầu tiên được con gái chở đi học, bác đến lớp chỉ mười lăm phút trước giờ học. Bác giải thích: “Bị bữa nay con gái chở!” Tôi reo vui dùm bác: “Vậy bác giã từ đời xe buýt rồi hén”. Bác cười hiền: “Dạ, hết đón xe “bớt” rồi.”

Được ít lâu, bác lại đi sớm bét. Đón ý dò hỏi của tôi, bác giải thích:
“Bị bữa nay con gái chở tui đi sớm để nó còn đi hầu tòa.”
“Ủa, làm sao phải đi hầu tòa vậy bác?”
“Nó lái xe chưa rành, lại không biết đường xá, vượt đèn đỏ mà không hay. Năm trăm hai mươi đồng đó cô, lại còn phải ra tòa, rồi đi học nữa.”

Tôi lắng nghe tiếp, chờ đợi một câu trách móc. Nhưng không, bác chỉ chép miệng:“Tội nghiệp con nhỏ!”

Trước Tết vài ngày tôi nhận điện thoại của bác. Giọng bác khẩn cấp: “Cô giúp tôi tìm thông tin trên mạng về mấy chuyến bay đi Hawai được không?”
“Dạ được. Đi ngày nào bác? Vé khứ hồi, phải không?”
“Đi càng sớm càng tốt. Vé một chiều.”
Khẩn cấp thật, chiếc vé không đường về. Tôi vào mạng liền và 15 phút sau báo cho bác biết các chuyến bay đi Hawai trong hai ngày sắp tới giá một chiều hơn 1000 đồng. Qua điện thoại, giọng bác sửng sốt: “Mắc quá, tưởng vài trăm!”

Tôi không dám hỏi thêm, chỉ mách nước bác đến một văn phòng du lịch ở Phước Lộc Thọ, lầu 2. Họ có nhiều thông tin hơn.

Hôm sau gặp bác ở lớp học, tôi hỏi liền: “Bác có mua được vé đi Hawai chưa?” Bác hớn hở:
“Được rồi. Hôm qua vừa nói chuyện với cô xong tôi thay quần áo đến văn phòng du lịch liền. Người ta tìm cho tôi một vé đi Hawai ngày mùng 3 Tết, giá 310 đồng.”

Tôi mừng cho bác và hơi ngượng vì “tài” search vé của mình. Bác gạt phăng: “Có sao đâu. Cám ơn cô đã giới thiệu chỗ mua vé.”  Rồi bác loay hoay móc từ bọc ra một chùm bưởi ba trái nhỏ, có lá xanh tươi. “Biếu cô mấy trái bưởi của vườn nhà chủ. Trái mùa đầu tiên, tui không biết nó chua ngọt ra sao. Mới hái đó cô.”  Nói thêm dăm ba câu nữa, bác lại nói “Bưởi mùa đầu, lỡ chua cô đừng buồn nha.”
Chưa đến giờ học, bác kể lể chuyện đi Hawai của đứa con gái. Một người bạn kêu nó đi gấp vì tiệm nail ở đó đang cần người những ngày Tết. Tính ra một ngày được 100 đồng, một tháng được 3000 đồng. Chủ bao ăn uống và chỗ ở. Kể tới đây bác hạ giọng nói: “Nói thiệt với cô, mua vé máy bay cho nó xong, cả nhà chỉ còn 100 đồng. Tui đưa nó năm chục để đóng tiền hành lý và tiền xe từ phi trường. Tui giữ năm chục đợi đến ngày đóng tiền điện nước.” Không nghe bác nhắc tới tiền ăn.

Tối giao thừa, tôi vừa bầy chùm bưởi của bác vào mâm cúng đón ông bà vừa cầu mong bưởi ngọt để bác đừng áy náy.

Sau Tết bác lại đến lớp sớm bét, ngồi ôn bài ngoài hành lang. Tội nghiệp bác phải quay lại với kiếp xe “bớt”; chắc bác nhớ con gái dữ. Tôi hỏi thăm bác: “Con gái bác đi làm chưa?” “Chưa cô ơi, nó nói bà chủ chưa sắp xếp.” Tự nhiên tôi thấy lo trong bụng, nhưng hình như bác vững tâm lắm. Bác nói: “Hôm qua nó gọi về, tui dặn nó kiêng ngày mùng 5, làm trễ một ngày cũng được.”

Tối hôm đó tôi soạn trái cây ngày Tết, chợt thấy mấy trái bưởi của bác. Vừa định bổ ra ăn thử một trái thì em tôi cản liền “Đừng ăn, em đã thử, chua len lét. Em phải bỏ đi!”  Tôi nhìn trái bưởi trong tay, thầm trách: “Sao mày chua, sao mày không ngọt?”. Tôi tần ngần nhớ đến một trăm đồng cuối cùng của bác, nhớ đến năm trăm đồng mất toi cho DMV và ba trăm tiền vé máy bay cho người con gái đi xa mưu sống. Cuộc đời đã chua, sao bưởi nỡ lòng nào còn chua hơn?

Hai ngày sau gặp bác ở lớp học, tôi vẫn đeo đuổi câu chuyện “Con gái bác đi làm chưa, bác?” Bác vừa ngồi xuống ghế vừa thở dài: “Nó về nhà rồi cô ơi. Bữa nay nó chở tui đi học.” Bác kể là người chủ tiệm chỉ mướn một người nhưng kêu hai người phòng hờ. Đứa con gái bay đến thì cũng có người khác đến. Người kia được chọn, nó phải đi về. Tôi nghe lòng chua chát, nhưng bác điềm tĩnh kể tiếp: “Người ta cũng tử tế, mua vé cho nó về. Trước khi về còn chở nó đi một vòng cho biêt Hawai.” Tôi lắng nghe, vẫn không có lời than vãn nào kế tiếp.

Chiều hôm ấy về nhà, mắt tôi lại vô tình trông thấy ba trái bưởi chua trong rổ trái cây. Tự nhiên tôi đùng đùng muốn “thanh toán” cái của chua lét này. Ba trái mọng nước vắt được một ly lớn. Tôi nếm thử, nước bưởi chua gắt và có vị đắng. Tôi vùng vằng bỏ thêm ba muỗng đường. Nước bười bây giờ chua, đắng và ngọt. Tôi sớt cho đứa cháu gái một ly nhỏ, còn lại tôi nhắm mắt uống một hơi. Vị chua đắng ngọt đọng trên lưỡi hồi lâu.

Hai hôm sau bác đi học, giọng chào “morning, cô” vẫn điềm tĩnh như bình thường. Nhưng sau đó bác ngồi xuống ghế, nói liền: “Cô ơi, chuyện buồn gì cũng kể cho cô nghe, hôm nay tôi có chuyện vui nè.” Tôi cũng bắt chước giọng điềm tĩnh của bác: “Vậy hả bác, chuyện vui gì ạ?”

“Hôm trước Tết đứa con ở Việt Nam gọi qua. Nó trách sao để chị phải đi làm xa. Tui nói ‘má kẹt tiền quá con à.” Nó suy nghĩ vài bữa, hôm qua mới gọi lại nói “Má, con gửi má hai ngàn đồng nha. Con nói anh Hai ký check cho má trước, con chuyển tiền sau.” (Anh Hai ở miền Bắc nước Mỹ)
Bác ngưng lời kể, hít một hơi dài: “Mừng quá, cô ơi!”

Nhìn khuôn mặt hằn nét vui buồn của bác tôi lại nhớ đến hình ảnh ông Bùi Giáng phong trần. Trần gian, quả như ông nói, sầu vui tiếp nối. Tôi yêu mến trần gian vì ở đó có những người hứng nhận chuyện vui sầu mà không khởi tâm hờn giận.



Khánh Doãn

Apr 15, 2011

Photography - KHÚC HÁT THANH XUÂN - Tía Dũng



Ngày ấy khi xuân ra đời
Một trời bình minh có lũ chim vui ...

Có lứa đôi
Yêu nhau rồi 
Hẹn rằng còn mãi khôn nguôi ....



Người mẫu : Ni - Minh

Apr 14, 2011

Chuyện tháng Tư.... - ANH QUÂN



Lại sắp đến ngày 30 tháng 4, cuộc chiến Việt Nam chấm dứt được 36 năm rồi, chóng ghê chưa,chuyện như mới xảy ra ngày nào, tôi còn nhớ một ngày của tháng 4 năm 1975, buổi trưa nóng nực đi học lớp chiều tại trường học của mình là Sư Phạm Thực Hành, đến trước cổng trường có tấm bảng ghi là trường phải đóng cửa là vì tình hình chiến trường sôi động. Ở cái tuổi lên 10 tôi làm gì biết lo, biết sợ, chỉ biết là được nghĩ học là khoái lắm rồi, không phải rơi vào cảnh trả bài hay kiểm tra là sướng quá đi, vậy là được rong chơi sướng quá đã, thêm nữa vào thời gian đó cha mẹ đâu có bắt học bài mà cả ngày tôi cứ nghe mọi người cứ nói ngoài trung thất thủ, cộng sản chắc sắp vào tới Sài Gòn. Tôi cũng chẳng biết Cộng Sản  là ai? Mà bà ngoại tôi cứ nói họ ác lắm, vì vào năm 1945 bà ngoại tôi ở ngoài Bắc có nuôi Việt Minh, còn được huy hiệu khen thưởng người phụ nữ anh hùng nữa, có lẽ lý do đó bà ngoại tôi cũng biết về Cộng Sản. Nghe ác thì nghe vậy chứ tôi nào để tâm. Lúc đó tôi không còn được phép ở nhà tôi bên Cư Xá Ngân Hàng, nay là quận 7, cả nhà phải lên nhà bác tôi tại đường Yên Đổ (nay là Lý Chính Thắng) tập trung tại đó để nhỡ có đi tản cư thì đi cùng một lúc. Y như hồi 1954 cả họ hàng nhà tôi, (tất nhiên là tôi chưa ra đời) cũng tập trung leo lên tàu đi vào nam. Tôi còn nhớ các ông anh họ tôi vận dụng hết sự quen biết bên phía Mỹ để tìm cách lên máy bay di tản qua Mỹ. Danh sách đã nộp, cả nhà cứ ngồi đợi thì nghe tin phi trường Tân Sơn Nhất đã bị pháo kích vào ngày 28 tháng 4, thế thôi mộng tôi lên máy bay hết thành rồi, với tôi lúc đó có đi Mỹ hay không chẳng quan trọng, nhưng được đi máy bay là điều mơ ước vì từ nhỏ đến lớn chưa được đi. Qua hôm sau thì ông anh họ tôi nói là có quen người Mỹ, theo họ thì có thể leo trực thăng ra Hạm Đội 7, nhưng đi không được đông, chỉ có một số người đi mà thôi, thế là cả nhà ngồi tính toán ai đi ai ở. Đến phần gia đình tôi thì bố mẹ tôi không đi nhưng mẹ tôi lại hỏi tôi đi không? Tôi ừ liền, đi máy bay không được thì đi trực thăng chắc cũng vui lắm, thêm nữa lại đi Mỹ qua đó tha hồ ăn “sô cô la”, uống “coca” và quan trọng nhất là không phải đi học bên Việt Nam. Thế là mẹ tôi bịn rịn đóng hành lý giao tôi cho các ông anh họ tôi đi xuống một Villa cũng ở đường Yên Đổ nơi mà các viên chức Mỹ chuyên thuê nhà trong thời gian qua Việt Nam làm việc.

Đi xuống dưới đó ngồi đợi, từ giờ này qua giờ kia, chẳng thấy bong thằng Mỹ nào hết, ông anh tôi nói thôi rồi mấy thằng Mỹ bỏ của chạy lấy người rồi. Buổi chiều 29 tháng 4 , tất cả lại lục đục về nhà thì nghe tin giờ nếu mà leo vào trong tòa đai sứ Mỹ là có cơ hội đi, nhưng làm sao mà leo vì toàn đại gia đình tôi có cả ông bà già cả lẫn con nít thì chịu thua thôi.

Sáng 30 tháng 4, cả nhà quyết định ra bến tàu để xem đi đường thủy có được không? Nhưng lúc đó bố tôi quyết định không đi vì sợ nguy hiểm, thêm nữa mẹ tôi đang có thai thì bố tôi càng không dám, riêng tôi thì cũng khoái đi tàu thủy lắm vì từ nhỏ đến lớn chưa được đi. Bố tôi không cho đi tôi đứng buồn bã nhìn các người anh họ tôi ra đi, họ đã leo lên một chiếc tàu đi đến Phi Luật Tân và sau đó họ đi đến Mỹ.

Sau này gặp các ông anh của tôi bên Mỹ , thì các ông ấm ức nhất là chiếc tàu thủy “Việt Nam Thương Tín” vì đã nhiều người dấu diếm không cho biết thong tin,đây là một chiếc tàu ra đi an toàn nhất. Vậy mà khi tới đảo Guam một số người vì đi bắt đắc dĩ, vợ con còn ở lại Sài Gòn nên quyết tâm rủ nhau về và rồi người nhà chưa kịp gặp thì cùng nhau đi ở tù.

Chiếc tàu cuối cùng rời Việt Nam vào trưa ngày 30 tháng 4, là chiếc Trường Xuân, do thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy lái, đây là chiếc tàu chở hang, đã chở gần 4000 người đến bờ tự do. Nghe đâu ca sĩ Elvis Phương và Bảo Hân cũng đi chuyến này. Còn tôi quen một hành khách trên chiếc Trường Xuân đang sống tại London, thì ông này đã bao nhiêu lần chạy, ông kể lúc bé theo cha mẹ ngồi tàu Há mồm từ Hải Phòng vào Sài Gòn, ở không được bao lâu, vài tháng lại đi ra bắc, ra ngoài đó là thôi luôn, hết vào nam, cả nhà ân hận. Cho đến tuổi thì đi Bộ Đội, đụng trận năm 1971 bên Kampuchia, thế là ông đi hồi chánh ở Sài Gòn. Rồi tới ngày 30 tháng 4, ông nghe tin quân đội nhân dân, cũng vốn là đồng chí của ông, thế là ông ta tái mặt, sợ quá chạy ra bến tàu, chứ ở lại bị treo cổ mất, đứng lang bang ngoài cảng kho 5, thấy chiếc Trường Xuân, rồi thấy mấy thằng nhỏ bán đậu phọng nhảy xuống bán, ông nhảy theo , tàu nhổ neo đi luôn, mấy thằng nhỏ bán đậu phọng đứng khóc bù lê bù la, đâu muốn đi. Thế mà tụi nó cũng qua Anh quốc định cư với ông Hồi Chánh. Đến giờ thì ông Hồi Chánh cũng chẳng có vợ, mà cũng còn sợ chưa dám về Việt Nam. Còn mấy thằng nhỏ bán đậu phộng tôi có quen biết và tui nó kiếm tiền nhiều lắm vì có một chức vụ khá lớn trong nhà ngân hàng. Tụi nó thì nhiều lần đã về Việt Nam chơi.

Ai ở lại Việt Nam sau 1975 thì đều biết chữ “Khổ” rồi, diễn tả ra là thừa. Cũng vì cái khổ đó xảy ra chuyện người Việt bỏ nước ra đi. Kể ra thì đã có những chuyến đi bằng tàu bè sau năm 1975. Lúc đó thì chỉ thưa thớt không đáng kể cho đến giữa tháng năm 1978 là sự ào ạt ra đi bằng tàu ghe và một số bằng đường bộ. Nếu bây giờ hỏi ai đi bằng đường biển như thế nào thì ai cũng có câu chuyện để kể mà có người sẽ tạo thêm câu chuyện bi đát và bi thương. Nói chung là “Khổ” nhưng còn hỏi chuyện hấp dẫn không thì chắc là không, ngoại trừ câu chuyện vượt biên bằng đường bộ của Phi Công Lý Tống thì được báo chí thế giới để ý đến, báo Reader Digest đã đăng câu chuyện của ông. Còn lại thì chẳng có câu chuyện nào thu hút như “Người Tù Khổ Sai, Papillon”  hay “The Great Escape” cả. Tất cả các câu chuyện vượt biển là chuyện buồn.  Có một điều phải nói từ năm 1975 – 1989 số người Việt Nam đi vượt biển rất là nhiều, không ai nắm nổi bao nhiêu người chết ngoài biển, chỉ biết nhiều đến nổi thế giới phải chú ý.

Cho nên vào ngày 20 tháng 6 năm 1979, cũng là ngày sinh nhật lần thứ 74 của nhà triết gia thiên tả nổi tiếng của Pháp là Jean Paul Satre, ông đã đưa kiến nghị lên chính phủ Pháp là phải giúp đỡ “Thuyền Nhân” Việt Nam. Đã nhiều năm ông Satre ít xuất hiện trước công chúng, lần này ra mặt ông đã nói về người tị nạn Đông Dương: “Trong số người vượt biển đó có những người, họ không đứng về phía chúng ta, nhưng trong lúc này chúng không cần tìm hiểu quan điểm chính trị của họ, nhiệm vụ chúng ta phải cứu sống họ. Đây là vấn đề đạo đức, một câu hỏi cho chúng ta về cách sống đạo đức và tình người”.

Nói xong, ông Sartre ngồi xuống, kế bên ông là một đối thủ truyền kiếp, không đội trời chung trên chiến trường chính trị là nhà văn nổi tiếng cùa Pháp là ông Raymond Aron, đây là lần đầu tiên, kể từ cuộc chiến Algerian năm 1954, ông Sartre mới cười lại với Raymond và bắt tay lấy ông ta. Nhưng hai ông cũng chẳng làm bạn được thêm với nhau bao lâu vì tới năm 1980 ông Satre lăn đùng ra chết về bệnh phổi và ông Raymond chết vào năm 1983 lên cơn đau tim bất ngờ.

Thêm một nhân vật nổi tiếng người Đức mà hoạt động chính trị tại Pháp vào thời sinh viên của thập niên 60,  là ông Daniel Cohn-Bendit, là lảnh đạo cuộc cách mạng sinh viên Pháp vào năm 1968, cũng là một người thiên tả nhưng ông đã nói:
“Ngày hôm qua người Mỹ đã giết trẻ em vô tội bằng các quả bom napalm, ngày hôm nay người cộng sản đã dìm chết trẻ em xuống biển. Hôm qua chúng ta có những cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam mà hôm nay chúng ta đều im lặng trước việc người đi vượt biển”.

Chuyện “Thuyền Nhân” kéo dài tới tháng 6 năm 1989 là thế giới tuyên bố chuyện người Việt đi tị nạn đã chấm dứt, tất cả sẽ là lịch sử và không còn ai muốn nghe chuyện người Việt Nam đi tị nạn nữa. Các trại tị nạn Đông Nam á sẽ đóng cửa , những cái tên như Paula Bidong, Galang 1 và 2, Shongkha, Kho Đen, Chi Ma Wan, Đầu Trắng... tất cả sẽ xa vời nhưng rất khó quên được trong tâm người tị nạn.

Câu chuyện người Việt Nam ra đi tưởng rằng đã chấm dứt, nhưng sau khi tất cả chế độ cộng sản tại châu âu không còn nữa, lại bắt đầu cuộc phiêu lưu khác, bỏ xứ ra đi của người Việt. Câu chuyện đầu tiên mà tôi gặp được là vào năm 1994 , nhưng đến giờ tôi vẫn không biết sự thật phía sau câu chuyện về một người Việt lưu lạc sang tận bên Anh mà thời gian đầu tôi đã bỏ nhiều thời gian giúp anh ta. Tuy nhiên đây cũng là chuyện mở màn cuộc di dân của người Việt từ thập niên 90 và sẽ được thuật trong lần tới.

ANH QUÂN 


Photos: http://groups.yahoo.com/group/TinhThuong36-A/message/5501