Apr 14, 2011

VỀ VỚI TÂM KHÔNG - Huệ Liên



VỀ VỚI TÂM KHÔNG


Qua bao năm mòn mỏi
Lăn theo cơn gió đời
Tiền tài và danh lợi
Làm mờ lối chân như.

Người ơi, hãy dừng lại
Dành đôi phút soi tâm
Những gì ta đang có
Sẽ chỉ là dư âm.

Chuyên cần ta bền chí
Tu niệm kiên trong lòng
Làm lành và lánh dữ
Xin trở về tâm không.

Linh hồn dù oen ố
Lau đi những bụi trần
Với tấm lòng rộng mở
Ta về với tâm không.

Huệ Liên
05/31/10

Apr 12, 2011

Hứng khởi sau khi đọc BẠN VĂN TIẾNG SÓNG



Rất thú vị nhất là tấm hình đầu là bố của bà _ Bác Doãn Quốc Sỹ
Tấm hình chót là Bác Tui - Vũ Quốc Thúc

Giòng họ Vũ là bên mẹ tui, vào thời 1945 là ông Ngoại tui mất giòng họ Bùi nghe nói cũng lớn lắm thuộc giòng Bùi Tường nhưng ông Ngoại tui không hợp nên bỏ Bùi Tường luôn, nghe kể họ Bùi Tường giờ làm khấm khá bên Pháp lắm ... tất nhiên tui không dám nhận rồi...

Sau đó bà Ngoại tui đành phải về lại nhà họ Vũ sống và từ đó là các người Bác họ Vũ trong đó có bác Vũ Quốc Thúc chăm sóc bà và mẹ tui cho đến lúc mẹ tui lập gia đình sanh ra tui. Nếu bà xem tiểu sử thì đúng hết sinh hoạt của bac Thúc tui, cũng nhờ lúc ông lên đạt đỉnh cao nhất của cuộc đời ông thì mẹ tui cũng được hưởng lây.

Bà cũng biết nước mình lúc đó được bao nhiêu Luật Sư nổi tiếng, tất nhiên được ông Diệm mời vào làm rồi. Bởi vậy bên nghành Luật xem như ông Thúc và ông Thông là những ngôi sao sáng
Cũng như tui gặp nhiều người bên đây là sinh viên trường Vạn Hạnh của Bác Trai và ai cũng kính trọng và tài năng hết.

Những người như bố bà hay bác Thúc tui là những người say mê cống hiến cho xã hội đất nước, dân tộc nên không bao giờ giàu có hết . Họ có ra đi sẽ để lại tiếng muôn đời.

Ông Thúc may hơn bố bà là không bị đi tù. Tui nghe bác tui kể Đỗ Mười la oai oái tại sao còn để thằng Thúc nhởn nhơ ngoài xã hội, sau đó có cho công an tới nhà nhưng may mắn là có lá thơ mùa hộ mạng của Thủ Tướng Pháp là nhận cho qua Pháp dạy học. Ông Thúc nói cũng may là Thủ Tướng Pháp thời xưa học chung lớp bên Pháp, không biết sao lúc đó anh ta ham chơi bài tập làm không kịp cho mượn, nên viết thơ qua nói chuyện cũ may ra anh ta nhớ thì cho mình qua.

Lúc đó Phạm Văn Đồng qua Pháp thì ông Thủ Tướng Pháp làm áp lực nên tụi nhà nước VN không dám đụng tới nữa. Đó là cái may của ông Thúc.

Giờ thì ông sống trong một chung cư nhỏ tại Pháp, với bà vợ cũng bị bệnh như mẹ bà, con cái cũng sống tại Paris hết.

Tuy ông Thúc là vai anh mẹ tui có điều tuổi cách xa , cho nên mẹ tui lại thân hết tất cả các người con của ông, cũng vì vậy tui cũng thân luôn với các con của ông. Nhưng tui rất thích nghe ông thích nói chuyện vì ông kể chuyện nghe vui tai lắm nhiều câu chuyện nghe cũng hấp dẫn... Có một điều không ai nghĩ nổi một cựu Bộ Trưởng về hưu vô cùng đạm bac, nhưng được 1 cái rất nhiều học trò muốn tới thăm nhưng bác tui tiếp đâu nổi.

Chuyện ngoài lề là gốc nhà họ Vũ là từ bên Tàu qua, vào Nam Định định cư , lúc đó làm ăn thất bại , thua lỗ, phá sản sau đó nhờ Thầy Địa Lý táng mã , vào một mã tốt , nhưng lại không được nhiều đời' Lúc táng xong nhà họ Vũ làm ăn phát tài thành một Đại Gia tại Nam Định, sau đó sanh ra những người con thì liền một lúc 3 người con đậu làm tri huyện hết trong đó có ông Thúc. Người phát nhiều nhất là ông Thuc , nhưng mã táng có hạn thôi , đến giờ con cháu có cao lam là Tiến Sỹ mà thôi, còn lại là chuyên viên, bác sỹ và dược sỹ chứ không ai nổi tiếng cả....

Thật ra tất cả những điều tui biết và có chuyện viết BLOG cho bà là nhờ sau 1975 , nhà hai ông Thông và Thúc còn một thư viện bé, trong đó nhiều sách lắm, cuối tuần Chủ Nhật là tui lên căn nhà tại Đường Yên Đỗ chui vào trong đó ngồi doc. Bà cũng biết sau 1975 sách bị cấm nhiều lắm.

Mấy hôm nay tui dọn GARA lại thấy chồng sách của Bác Chi , hôm Bác Tuân và Chị Yên kêu tui đem về ... tui cũng đứng bùi ngùi đôi chút nhớ về Bác , có lẽ không quá 10 người tại London này còn nhớ tới Bác , ít ra tui là thằng duy nhất còn giữ được sách của bác....

Tui có nguyên quyển Võ Phiến toàn tập. Nhưng tui lại thích cách viết của nhà văn Nguyễn Hưng Quốc viết về Võ Phiến cũng như Mai Thảo. Ong Quốc có nói là có những lần về VN gặp một số người họ phê bình chỉ trích Võ Phiến một cách tàn nhẫn, thiếu điều mạt xát.

Sau khi nghe xong ông Quốc hỏi mấy người phê bình nhà văn Võ Phiến là đã đọc qua tác phẩm của ông ta chưa? những người đó chừng hửng trả lời chưa và nói gượng gạo là nghe người ta kể lại. Ong Quốc nói kể cũng lạ tai VN chưa đọc qua một tác phẩm của một nhà văn mà họ có đủ trình độ phê bình.

Ông Nguyễn Văn Lục tui đọc nhiều là các bài lịch sử của ông, có những bài rất hay . Trong vài năm qua ông lại bị rơi vào một trận bút chiến và thêm nữa chuyện của nhóm Tự Lực Văn Đoàn với nhà văn Nguyễn Thị Vinh. Với tui thì không thắc mắc nhưng làm tui hoi mất tin tưởng vào các thông tin của ông. Nhưng ông Lục viết tui vẫn đọc điều cho đến ngày hôm.

Còn nhà văn Uyên Thao và Phan Lạc Phúc tui không theo dõi vào hết mọi chi tiết nên không có chuyện viết cho bà đọc

Đó tui cũng rơi vào tình trạng có những người không biet mà cung viết về họ
Tui
Quân


LỄ MỪNG 04 NỮ HOÀNG KIM (GOLD AWARD) VÀ 06 NAM ĐẠI BÀNG (EAGLE SCOUT) CỦA LIÊN ĐOÀN TRƯỜNG SƠN


Đằng sau 04 nữ Hoàng Kim…


và 06 nam Đại Bàng…


... là cả một đại gia đình Trường Sơn gắn bó,
thương yêu, cùng một lý tưởng


Vào ngày Thứ Bảy, 09 tháng 04 vừa qua, Liên Đoàn Hướng Đạo Trường Sơn đã tổ chức lễ trao đẳng cấp Hoàng Kim (Gold Award) cho 04 nữ hướng đạo sinh Nancy Đinh, Danielle Hồ, Vannie Lương, Darlene Tiêu, và đẳng cấp Đại Bàng (Eagle Scout) cho 06 nam hướng đạo sinh Victor Hà, Anthony Hứa, Justin Lê, Kevin Ngô, John Nguyễn và John Trần. Một con số kỷ lục về số đoàn sinh đạt được hai danh hiệu cao quí này của Trường Sơn, liên đoàn đã có lịch sử 30 năm tồn tại và phát triển trên đất Mỹ.

Những danh từ chuyên môn của hướng đạo như Gold Award, Eagle hiện nay không còn xa lạ với cộng đồng chúng ta. Có thể thấy rằng phong trào hướng đạo trong những năm gần đây đang có khuynh hướng phát triển mạnh hơn trong cộng đồng người Việt Quận Cam. Tìm hiểu một chút về đời sống hướng đạo của các em nữ Hoàng Kim và nam Đại Bàng, ta sẽ hiểu rõ hơn về lý do phát triển của phong trào này.

Một nửa trong 10 em này có cha mẹ là các trưởng trong Liên Đoàn Trường Sơn. Một nửa còn lại có gia đình đã sinh hoạt với liên đoàn Trường SƠn từ trên 10 năm. Nancy Đinh, 19 tuổi, nói rằng em hơn một nửa đời của em gắn bó với hướng đạo, với liên đoàn. Anh của Nancy cũng là một đoàn sinh của Trường Sơn, cũng đã đạt đẳng cấp Đại Bàng vài năm trước đó.

10 em đều còn ở độ tuổi teen. Ở tuổi này ở xứ Mỹ, quá nhiều phụ huynh đang lo lắng tìm cách ngăn con em mình khỏi rơi vào các tệ nạn xã hội như băng đảng, xì ke. Hoặc nhẹ hơn là ngăn cho chúng bớt dán mắt vào video game suốt ngày, hoặc khuyên chúng sống sao cho vị tha hơn, đừng chỉ lo nghĩ đến bản thân mình. Còn các em Hoàng Kim & Đại Bàng làm gì trong các dự án của mình ở tuổi đôi tám? Danielle Hồ tổ chức talent show cho các bạn học sinh cần sự giúp đỡ đặc biệt trong trường học của mình. Vannie Lương và Darlene Tiêu cùng tổ chức kỳ trại hè 02 tuần giới thiệu nghệ thuật tạo hình đến với các sinh viên đồng trang lứa ở Santa Ana College. Anthony Hứa đóng 02 băng ghế dài cho sân thính phòng ngoài trời của trường. Justin Lê đóng 02 cột gôn di động để chơi bóng tròn cho các em tiểu học… Tất cả những dự án của cả 10 em đều để phục vụ cộng đồng, một tiêu chí bắt buộc của các dự án Hoàng Kim & Đại Bàng. THông qua dự án, các em còn học hỏi về kỹ năng lãnh đạo, sắp xếp tổ chức công việc, kỹ năng giao tiếp…, những kỹ năng rất cần để thành công khi ra đời. Và quan trọng hơn nữa,

Làm sao để các em có được những kỹ năng và tấm lòng đáng quí như vậy? Có phải đó là do thuộc tính có sẵn của các em? Hay chỉ qua một vài tháng làm dự án là các em sẽ có đủ hết mọi thứ tốt đẹp? Xin thưa rằng không. Đó là kết quả của những nỗ lực hướng dẫn, dìu dắt của cha mẹ, của các trưởng dành cho các em trong nhiều năm trời. Nếu thả cho tự do thì chắc các em cũng sẽ ham chơi, ham muốn những hưởng thụ dễ dãi giống như nhiều bạn trẻ khác. Để hướng các em đến với sinh hoạt hướng đạo, đến với tinh thần giúp đỡ mọi người bất cứ lúc nào của hướng đạo, các phụ huynh phải kiên trì, khuyến dụ các em ngay từ lúc còn nhỏ. Đã có nhiều em kể rằng hồi mới đi hướng đạo, bị thức dậy sớm, bị mất một buổi sáng cuối tuần không chơi game… các em không thích chút nào, nhưng vẫn phải đi vì cha mẹ ép buộc. Nhưng rồi vài năm sau, quen bạn bè, quen trưởng, quen với môi trường sinh hoạt, các em bắt đầu thích thú và gắn kết với liên đoàn hơn. Nancy Đinh nói rằng em xem Trường Sơn như nhà ngôi nhà thứ hai của mình. Mà quả là vậy. Các trưởng xem các đoàn sinh như con em của mình. Những phụ huynh trong liên đoàn cũng vui vì những thành tích của các em trong liên đoàn như chính con em mình. Nancy cảm ơn cha mẹ hồi nhỏ đã ép em phải đi hướng đạo dù em chưa thích. Nếu hồi đó, không có cha mẹ hướng dẫn, thì em đã không đi hướng đạo, và cuộc đời của em chắc sẽ rất khác ngày hôm nay.

Những ai nghĩ rằng cứ đem con gởi vào hướng đạo là tự nhiên chúng sẽ tốt hơn, người đó lầm. Những ai nghĩ rằng mục đích vào hướng đạo của các em là đạt danh hiệu đại bàng, hoàng kim, người đó cũng lầm. Đó là ý kiến của một trưởng trong liên đoàn Trường SƠn, cũng là cha của một trong 06 tân Đại Bàng. Hướng đạo là một con đường đi chứ không phải là đích đến. Trên đường đi có bao nhiêu điều để hưởng thụ, để học hỏi. Những kỳ cắm trại dài ngày vào mùa hè trên núi Big Bear. Những đêm lửa trại ngoài biển San Onfore State Beach. Những kỳ rửa xe gây quĩ cứu trợ nạn nhân bão lụt, động đất, sóng thần. Những ngày tham gia công tác trong hội chợ Tết sinh viên, Niềm Mơ Ước Giáng Sinh… Mỗi ngày như vậy là một niềm vui trước đã. Rồi qua thời gian, tinh thần sắp sẵn, vị tha của hướng đạo mới bắt đầu thấm dần vào trong nếp nghĩ, hành động của các em. Các em trưởng thành dần dần qua nhiều năm sinh hoạt với đoàn thể, chứ không phải trong một sớm một chiều.

Danh hiệu Hoàng Kim, Đại Bàng cũng không phải là đích đến sau cùng của hướng đạo sinh. Đó chỉ là sự khởi đầu. Một trưởng khác của liên đoàn đã nhiều lần nhắc nhở các em điều này. Trong khi hoàn thành dự án, các em bắt đầu làm quen với những thử thách mà các em sẽ phải đối mặt khi ra đời sau này. Qua đó các em có được những kiến thức, kỹ năng cơ bản để giải quyết công việc. Nhưng các em vẫn phải tiếp tục học hỏi, trau dồi các kỹ năng để không bị tụt hậu. Phải tránh thái độ tự mãn. Có vậy thì các em mới tiếp tục vững bước trên đường đời được.

Cả 10 em khi phát biểu trước quan khách tham dự buổi lễ trao danh hiệu Hoàng Kim & Đại Bàng đều gởi lời cảm ơn đến cha mẹ, các trưởng, các bạn bè cùng trang lứa trong liên đoàn của mình. Hơn ai hết, các em hiểu những danh hiệu này không chỉ là công sức của các em.

Câu chuyện về các chàng trai Đại Bàng và cô gái Hoàng Kim là thế đó. Đằng sau 06 Đại Bàng, 04 Hoàng Kim của ngày hôm nay, phải thấy cả một đại gia đình Trường Sơn gắn bó, thương yêu, cùng một lý tưởng đã có từ hàng chục năm trước…

Đoàn Hưng

PHOTOGRAPHY - Chân dung Tiểu Quỳnh

CHƯƠNG TRÌNH VIỆT NGỮ CẢI TIẾN CỦA VIỆN VIỆT-HỌC: NHỮNG NỖ LỰC TẠO THÊM SỨC SỐNG CHO TIẾNG VIỆT Ở HẢI NGOẠI












Lớp học dạy chương trình Việt Ngữ Thí Điểm của Viện Việt Học



“Hoa Kỳ” hay “Hoa Kì”? “Mì ly” hay “mì li”? “Của” hay “Cuả” ?
Ai là người thay đổi cách viết tiếng Việt theo kiểu này? Tại sao phải thay đổi?
Trên đây là một số câu hỏi đã được nhiều người đặt ra cho chương trình cải tiến cách dạy và học tiếng Việt của Viện Việt-Học, bắt đầu được ưu tư đã hơn 10 năm nay, mà nền tảng dẫn đến sự đúc kết của Viện Việt-Học cho phương pháp này đã được nghiên cứu độc lập bởi một số giáo sư, học giả từ rất nhiều thập niên trước.

Thường thì bất cứ cách làm mới nào thì cũng có kẻ bênh, người chống. Đó là lẽ thường tình, đặc biệt là khi chúng ta sống ở trên nước Mỹ tự do, chúng ta là người Việt ở Little Saigon, thủ đô của Người Việt Tự Do.

Để giúp cho độc giả có thêm thông tin về công việc đầy tâm huyết này, Anh Nguyễn Minh Lân, Tổng Thư Ký của Viện Việt-Học, đã có một cuộc trao đổi với Việt Báo về những nét cơ bản nhất của chương trình cải cách việc dạy đọc và viết tiếng Việt tại hải ngoại.

Anh Lân kể lại nguyên nhân khiến bản thân anh rất tâm đắc với việc cải cách chữ Quốc Ngữ. Từ đầu thập niên 80, khi anh và gia đình mới định cư ở Mỹ, anh đã tự dạy tiếng Việt cho con của mình. Rồi có một lần, con anh hỏi: “Ba ơi, tại sao mình viết là “mì ly” chứ không phải là “mì li”? Tại sao là Hoa Kỳ chứ không phải là Hoa Kì?”. Lúc đó, anh không thể trả lời được. Mà muốn thuyết phục con trẻ học tiếng Việt ở Mỹ thì cần giải thích cho chúng hợp lý. Kể từ đó, anh nghĩ rằng phương pháp dạy tiếng Việt tại hải ngoại không còn là vấn đề của một cá nhân nữa, mà là của chung cuả cộng đồng chúng ta.

Vào năm 2000, Viện Việt-Học được thành lập. Giáo Sư Nguyễn Đình Hòa, Viện Trưởng đầu tiên của Viện Việt-Học (Nguyên Khoa Trưởng của Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, từng phụ trách giảng khoa về Kế Hoạch Hoá Ngôn Ngữ - Language Planning, trong nhiều thập niên, chủ trương cải tiến cách đọc và viết chữ Việt, trong đó có đề nghị thay “i” ngắn bằng “y” dài), đã bắt đầu thực hiện việc nghiên cứu cải cách phương pháp dạy đọc và dạy viết tiếng Việt tại hải ngoại. Mục đích chính là làm cho cách đọc và viết tiếng Việt trở nên khoa học, có hệ thống hơn theo âm vị học, để việc giảng dạy tiếng Việt cho thế hệ trẻ lớn lên ở hải ngoại dễ dàng hơn. Kể từ đó công trình này là một chặn đường dài, với sự đóng góp của nhiều trái tim và khối óc của những giáo sư, những nhà chuyên môn trong bộ môn ngữ lí học. Vào năm 2005, Viện Việt Học đã tổ chức Hội Nghị Về Chữ Nôm, có một phần nội dung là nhìn về cách phát âm tiếng Việt qua ký hiệu chữ Nôm. Vào năm 2007, Viện lại tổ chức Hội Nghị Quốc Tế về tiếng Việt, qui tụ những nhà chuyên môn về ngôn ngữ Việt trên toàn thế giới, cùng thảo luận về lịch sử và phương pháp giảng dạy tiếng Việt. Tổng hợp nhiều ý kiến trong hội nghị này, vào năm 2008, Viện Việt Học đã bắt đầu dạy chương trình Việt Ngữ Thí Điểm, thử nghiệm phương pháp dạy đọc và viết tiếng Việt theo hướng cải tiến. Chương trình này vẫn còn tiếp tục đến ngày hôm nay.

Trong phạm vi một bài báo, sẽ rất khó để trình bày đầy đủ công trình nghiên cứu cải tiến chữ Quốc Ngữ. Anh Lân đưa ra một số khái niệm cơ bản nhất. Về lịch sử, việc dạy chữ Quốc Ngữ trải qua 3 thời kỳ:
- Thời kỳ I, kéo dài đến năm 1939: tiếng Việt viết theo abc (gọi là “chữ quốc ngữ”) được dạy theo cách đánh vần cổ điển ở các trường gọi là Pháp-Việt.
- Thời kỳ II, từ năm 1939 đến khoảng 1950: Hội Truyền Bá Quốc Ngữ được thành lập để dạy chữ quốc ngữ cho các trẻ em thất học và những người lớn tuổi mù chữ, nhà nghèo. Các học giả Trần Văn Giáp, Hoàng Xuân Hãn, Vũ Huy Trác soạn sách Vần Quốc-Ngữ dạy theo phương pháp mới. Theo đó, mẫu tự được đánh vần theo âm Việt: bờ, cờ, dờ… thay vì bê, xê, dê… như trước, đơn giản hơn xưa.
- Thời kỳ III, từ năm 1950 đến 1975: qua các công trình của nhiều học giả, giáo sư như Nguyễn Bạt Tụy, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Hiến Lê, Lê Văn Lý... và ngay cả các nhà ngữ học Miền Bắc, sự khảo cứu Việt ngữ đã có nhiều tiến bộ tích luỹ lại dần.

Việc cải tiến tiếng Việt của Viện Việt-Học rút tỉa tinh hoa từ các công trình này, kết hợp với công trình nghiên cứu riêng của nhiều học giả, trong đó có một số Giáo Sư thuộc Viện Việt-Học như Giáo sư Nguyễn Đình Hòa, Trần Ngọc Ninh, Phạm Văn Hải, Đàm Trung Pháp, Đỗ Đình Tuân…
Một cách khái quát, việc cải tiến mà Viện Việt-Học đề nghị và chủ trương hoàn toàn dưạ vào các công trình khảo cứu tự do cuả các học giả Việt Nam lấy căn bản thuần tuý là âm vị học Việt Nam, nằm ở một số những điểm chính sau:

1- Quan niệm mỗi chữ đôi Ch, Th, Tr, Ng, Ngh, Nh, Gh, Gi là 1 phụ âm, chứ không gọi là phụ âm kép.

2- Quan niệm chữ “i” là nguyên âm, còn “y” là bán nguyên âm. Đó là lý do bỏ những cách viết vô lí nhu Ý-đại-lợi, Y-pha-nho, Mỹ, y sĩ (nhưng kẻ sĩ) và viết nước “Mĩ”, “Hoa Kì”, quốc kì. Phân biệt nguyên âm (vowel) và bán âm (semi-vowel), như âm i có hai thể, một là nguyên âm như li kì, hi vọng, hai là bán âm như ai, hai, ngói và yêu, liều, lia liạ, điù hiu. Sự phân biệt này có tình cách khoa học vì cách phát âm có khác nhau và máy thu thanh cho thấy sóng rung động khác nhau. Dễ thấy nhất là khi âm i ở những vần thông (vân xuôi) chỉ có một chữ i như nước Í, nước Mĩ, Cao li, Bắc Kì, Nam Kì, Hoa Kì, Thổ Nhĩ Kì thì là nguyên âm mà ta có thể kéo dài cho đến ngưng luồng hơi. Sự cải tiến là trong trường hợp này, nguyên âm i thì viết là i, không viết Ý đại lợi nưã mà viết Í đại lợi, vân vân. Mì li, quốc kì, lông mi, kì dị, vị kỉ, thi ca, thí dụ, phi lí chứ không mì ly, quốc kỳ, kỳ dị, vị kỷ, thy ca, thý dụ, phi lý, vân vân.

3- Bỏ dấu theo âm vị học: Bỏ dấu dựa trên nguyên âm chính của một chữ, thí dụ: “lưả” (lư-ả), chứ không phải “lửa” (lử-a) là cách bỏ dấu theo thẩm mỹ đối xứng.

4- Chia vần theo vần thông - không có mẫu tự tận cùng nào để ngăn cản sự thoát âm của nguyên âm cuối trong chữ, (thí dụ “ta”, “cha”, tổ…) và vần chặn (thí dụ “mát”, “nhanh”, “ngon”…)
Anh Lân nhấn mạnh mục đích chính của những cải tiến này là để khoa học hóa cách phát âm, đọc, viết tiếng Việt, từ đó tạo điều kiện cho việc dạy tiếng Việt của chúng ta tại hải ngoại trở nên dễ dàng hơn và không mâu thuẫn (đi ngược) với sự học Anh văn, Pháp văn... kể cả chính tả Việt ở trong nước. Điều này đặc biệt cần thiết cho thế hệ trẻ lớn lên ở Âu Mỹ, đòi hỏi sự hợp lý. Khi phải học điều gì trái nghịch với sự hiểu biết khoa học đương thời, trái với điều các em được học ở nhà trường, chúng sẽ phản ứng chống lại ngay. Cách viết “kì dị” thay cho “kỳ dị” là một thí dụ rõ ràng nhất. Rõ ràng là nếu chỉ nghe đọc và ghi lại, thì “kì dị” mới là cách viết logic hơn. Sự viết theo đúng ngữ âm này không ảnh hưởng đến các viết tên họ riêng (như Uyên Thy, Vy Vy Trần, Ly Ly ...) và cũng chưa triệt để vì chỉ mới nêu ra một hai điểm phi lý nhất mà thôi.

Cũng có một số ý kiến cho rằng hơn 80 triệu người Việt trong nước đang học tiếng Việt hiện hành không cải tiến mà đâu có sao? Đó là vì trẻ em ở Việt Nam học tiếng Việt từ lúc còn rất nhỏ ngay trong gia đình, học một cách tự nhiên, không cần lý luận, học theo kiểu mưa lâu sẽ thấm đất. Tương tự, những người Việt hải ngoại thuộc thế hệ lớn lên trong nước, vẫn đang viết tiếng Việt theo số đông, cũng không có vấn đề. Anh Lân nhắc lại việc cải tiến chữ Quốc Ngữ không nhắm vào những người này. Nếu tiếng Việt chỉ dành cho thế hệ của anh, thì có lẽ chẳng ai cần bận tâm đến chuyện cải tiến. Đằng này, hoài bão của rất nhiều người trong chúng ta là duy trì tiếng Việt ở hải ngoại cho thế hệ con em sinh ra và lớn lên ở đất khách quê người. Các em học tiếng Việt trong khi đã nhập tâm tiếng Anh như là ngôn ngữ chính. Việc dạy và học tiếng Việt càng khoa học, càng hợp lý, thì việc khuyến khích thế hệ trẻ học tiếng Việt càng dễ dàng hơn.

Một ngộ nhận cần phải đính chính là cách viết theo kiểu cải tiến này không phải xuất phát từ Việt Cộng như nhiều người hiểu lầm. Thực ra, cách dùng chữ i chứ không phải là chữ y đã có từ rất lâu trong lịch sử chữ Quốc Ngữ. Nam Phong Tạp Chí viết “Mĩ Châu” chứ không phải “Mỹ Châu”. Cụ Hoàng Xuân Hãn viết “ác quỉ” chứ không phải là “ác quỷ”. Bìa sách 1879: “Sáu Tỉnh Nam Kì Tuế thứ Kỉ Mão”… Còn nhiều thí dụ tương tự như vậy chứng tỏ rằng cách viết này đã có từ đầu thế kỷ trước. Tuy nhiên không phải là ta tồn cổ khi xét lại cách viết, mà là tiến vào tương lai, vì tương lai là khoa học, là hợp lý.











Sách Dạy Tiếng Việt cải tiến của Giáo Sư Trần Ngọc Ninh


Mà có thực sự là sự cải tiến đem lại sự dễ dàng cho việc dạy và học tiếng VIệt không? Anh Lân cho biết kết quả của chương trình Việt Ngữ Thí Điểm đã và đang thực hiện tại Viện Việt-Học trong 3 năm qua rất đáng khích lệ. Các em đang theo học- cho dù ở trình độ vỡ lòng- có những tiến bộ nhanh và rõ rệt. Các em ít bị lẫn lộn trong cách đọc và viết tiếng Việt hơn. Một phụ huynh có con 6 tuổi, đi học chương trình mới có 6 tuần, kể rằng chính mình cũng ngạc nhiên trước kết quả học tiếng Việt của cháu. Một hôm gia đình đi ăn chung ở nhà hàng, cháu cầm menu đọc, tuy lơ lớ nhưng đúng đến 80%, khiến ai cũng vui mừng và phục lăn! Sự học đọc học viết theo âm vị học (nghiã là theo khoa học ngôn ngữ) tất nhiên có nhiều tiến bộ khác nữa chứ không phải chỉ có chuyện y dài i ngắn.

Một câu hỏi được đặt ra nữa là những cải tiến như vậy của Viện Việt-Học đã là hoàn hảo chưa? Sứ mệnh nuôi dưỡng và duy trì tiếng Việt ở hải ngoại không phải là công việc của riêng một cá nhân, một tổ chức nào. Viện Việt-Học chỉ là một trong những đơn vị đi tiên phong trong công việc này, và công trình của Viện được thực hiện bởi nhiều nhà chuyên môn trong lĩnh vực ngôn ngữ. Viện Việt-Học cũng đã thực hiện công việc một cách cẩn trọng, đi từng bước thí điểm, đo lường kết quả của việc cải tiến. Do vậy, Viện Việt-Học luôn luôn sẵn sàng đón nhận việc đóng góp ý kiến của tất cả những cá nhân trong cộng đồng có quan tâm đến sứ mệnh bảo tồn làm giàu làm đẹp tiếng Việt. Ước mong cuả người viết bài báo này là được thấy tất cả các người Việt Nam cũng lưu tâm đến công việc và sự nghiệp này.

Sự thay đổi và cải cách bao giờ cũng gặp khó khăn. Thước đo thành công của sự cải cách chính là việc nó có được áp dụng rộng rãi vào thực tế hay không. Công trình cải cách chữ Quốc Ngữ của Viện Việt-Học cũng thế. Sẽ cần thêm thời gian để xem phương pháp mới này có được sự hưởng ứng như thế nào. Nếu những lợi ích mà nó đem lại cho việc dạy và học tiếng Việt là to lớn, việc chấp nhận sẽ xảy ra trong một tương lai gần. Nhưng ngay trong hiện tại, chúng ta vẫn có thể thấy rõ tấm lòng của những người đã bỏ tâm huyết vào công việc đầy ý nghiã này, những người đã lấy câu “Tiếng Việt Còn, Văn Hóa Việt Nam Còn” làm phương châm trong công việc. Từ đó, chúng ta sẽ nhìn sự khác biệt của Tiếng Việt cải tiến một cách đồng cảm hơn.

Đoàn Hưng

Chương trình “Vui Học Lịch Sử, Văn Hóa Việt”



Chương trình “Vui Học Lịch Sử, Văn Hóa Việt”

Phỏng vấn Giáo sư Doãn Kim Khánh

Thanh Phong/Viễn Đông (thực hiện)

co-Doan-Kim-Khanh.jpg

Giáo sư Doãn Kim Khánh trả lời phỏng vấn của phóng viên tại Thư viện nhật báo Viễn Đông - ảnh: Thanh Phong/Viễn Đông.


WESTMINSTER - Vào ngày thứ Bảy, 15-1 sắp tới, Viện Việt Học sẽ tổ chức một buổi Workshop về đề tài “Lịch Sử Dựng Nước”, do diễn giả Giáo sư Doãn Kim Khánh, ái nữ của nhà văn Doãn Quốc Sĩ trình bày. Đây là một chương trình mới của Viện Việt Học. Riêng nhà giáo Doãn Kim Khánh đã bỏ ra nhiều thì giờ nghiên cứu và qua kinh nghiệm giảng dạy các sinh viên tại Orange Coast College, cùng với hoài bão của mình muốn truyền đạt kiến thức lịch sử, văn hóa Việt cho thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên tại Mỹ, chiều thứ Hai 10-1-2011, Giáo sư Doãn Kim Khánh cùng đi với Thầy Nguyễn Minh Lân (Viện Việt Học) đến thăm tòa soạn báo Viễn Đông và dành cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn.

Viễn Đông:
Xin giáo sư tóm tắt về chương trình sắp thuyết trình tại Viện Việt Học?
GS. Doãn Kim Khánh: Như anh biết, cái tên chương trình đã nói lên nhiều thứ rồi và tôi gọi đó là chương trình “Vui học lịch sử và văn hóa Việt”. Nội dung chúng tôi muốn truyền đạt là lịch sử và văn hóa. Thật ra hai vấn đề đó cũng chẳng có gì mới lạ. Từ bao nhiêu đời nay, mình vẫn quan tâm đến lịch sử và văn hóa, nhưng thực sự chúng tôi ở Viện Việt Học rất tâm huyết với chương trình mới này, bởi vì chúng tôi thấy rằng mình đang ở trong hoàn cảnh đặc biệt, hoàn cảnh xa xứ của mình nó làm cho cái chuyện mà chúng tôi cố gắng truyền bá lịch sử và văn hóa của mình trở thành quan trọng hơn là bình thường. Trong hoàn cảnh xa xứ này, chúng tôi thấy có hai nhiệm vụ mà mình phải để tâm trong đầu, thứ nhất là phải bảo tồn được hương hoa của tiền nhân để lại cho các cộng đồng sống xa xứ và đồng thời cũng phải lo hòa nhập với nền văn minh đang nuôi dưỡng mình. Nghe thì cũng hợp lý, hợp tình, nhưng thực sự rất khó. Một đằng mình muốn giữ lại cái cũ, cái của mình từ xưa đến nay, và đằng khác, mình phải hòa nhập với xã hội mình đang sống, nếu mình muốn sống cho cân bằng, thì phải làm thế nào đương đầu với sự hội nhập của hai nền văn hóa.

Viễn Đông: Đối với thế hệ người Việt đang sống tại hải ngoại, đối tượng nào làm cho giáo sư quan tâm nhất về vấn đề bảo tồn hương hoa của tiền nhân?
GS. Doãn Kim Khánh: Từ khi có cuộc di tản năm 1975, ở ngoại quốc ai cũng lo chuyện bảo tồn, chuyện hòa nhập hết, nhưng mỗi thế hệ có một vấn đề khác, một hiệu quả khác. Thí dụ như thế hệ mới đến, thì bảo tồn giỏi nhưng không hòa nhập được; thế hệ một rưỡi, thì cũng giải quyết được vấn đề hòa nhập, nhưng bảo tồn lỏng lẻo hơn, và bây giờ mình lo lắng nhất là thế hệ kế tiếp, thế hệ của các em sinh ra và lớn lên tại nước Mỹ, chỉ còn lại một chút lỏng lẻo gắn với đất nước là thế hệ ông bà, cha mẹ nhưng đều lớn tuổi. Cho nên thực sự Viện Việt Học và chúng tôi hết sức quan tâm, làm thế nào để các em biết mình là ai, các em giữ được cái hương hoa của đất nước. Mình đến đây mình học được nhiều thứ, nhưng cũng cần giữ lại nhiều thứ nữa; nhưng bất cứ nền văn minh nào cũng có cái thích hợp và cái không thích hợp. Nếu mình không giữ lại cái gốc, thì các em sẽ vất vả khi ở cái xứ mà các em không còn nhớ gốc gác của mình. Nhưng bảo mình là người Mỹ, các em cũng đâu có được coi là người Mỹ đâu; cho nên chúng tôi thấy chuyện đó là chuyện cần thiết, làm chúng tôi trăn trở và chúng tôi phải gấp rút, đem hết tâm huyết ra để thực hiện.

Viễn Đông: Xin giáo sư cho biết, chương trình được bắt đầu nghiên cứu từ bao giờ và gồm những ai trong Nhóm soạn thảo?
GS. Doãn Kim Khánh: Sau khi đặt chân đến Hoa Kỳ cách đây hơn hai năm, tôi đi dạy tại OCC và đã để thời gian nghiên cứu chương trình này, sau đó được sự hợp tác tích cực của những người có cùng tâm huyết như anh Nguyễn Minh Lân, cô Kim Ngân và cô Thụy Minh Hồng (Viện Việt Học) và đến hôm nay coi như đã xong một giai đoạn và chúng tôi quyết tâm “lăn bánh” để thực hiện.

Viễn Đông: Với chủ trương “Vui học lịch sử, văn hóa Việt” xin giáo sư nói rõ hơn về kế hoạch “Vui” như thế nào?
GS. Doãn Kim Khánh: Chuyện Vui là chuyện quan trọng, tại vì tôi đã từng nghe nhiều phụ huynh kể lại là khi bắt các em đi học tiếng Việt, các em lê những bước chân đó như là mang xiềng xích vậy. Trước khi qua đây tôi đã biết chuyện đó và khi qua đây thấy cũng hơi vui, vì thấy chuyện dạy tiếng Việt nó tiến bộ nhiều so với ngày xưa. Bây giờ mình đưa vấn đề dạy lịch sử, văn hóa Việt ra, mình làm sao tránh cho các em coi như chuyện nặng nề đi cày, đi bừa, cho nên làm sao cho các em Vui thì chuyện học lịch sử hay văn hóa Việt nó nhẹ nhàng ngay. Mục tiêu vẫn là nghiêm chỉnh, nhưng chúng tôi muốn đưa ra một phương pháp vui, để cho nó vui thì trước hết phải để cho nó dễ đã. Cho nên tôi chủ trương xài hai thứ tiếng, chứ không bắt các em vừa nặn óc tiếng Việt, vừa thu thập kiến thức, nên đầu tiên làm cho nó dễ để nó vui là dùng hai ngôn ngữ. Thứ nhì là chúng tôi không có chủ trương Thầy cứ nói rồi ở dưới học trò ngồi nghe, thành ra không gọi đó là lớp học, mà gọi đó là Workshop. Tùy theo trình độ các em, mà chúng tôi điều chỉnh nội dung để làm sao không quá đáng, không cố tình nhồi nhét kiến thức cho các em, mà chúng tôi áp dụng rất chừng mực, vừa phải đối với từng lứa tuổi, để các em nhận biết mình là ai. Do đó chúng tôi sẽ tìm mọi cách để các em góp phần vào bài học, không để cho thầy độc diễn.

Viễn Đông: Xin giáo sư cho một thí dụ?
GS. Doãn Kim Khánh: Thí dụ học về lịch sử dựng nước thì có rất nhiều những huyền thoại. Phần Thầy, chúng tôi sẽ đưa ra những kiến thức căn bản, thí dụ như khi kể chuyện bà Âu Cơ và Lạc Long Quân, Con Rồng, Cháu Tiên, thì chúng tôi cho các em tưởng tượng mình là một số trong 100 người con của bà Âu Cơ và ông Lạc Long Quân, thì các em nghĩ là các em sẽ theo ai. Lúc đó mình cho một em đóng vai Lạc Long Quân, một em đóng vai bà Âu Cơ, rồi các em chọn. Sau khi đã có hai nhóm, một theo Lạc Long Quân xuống vùng đồng bằng, một nhóm theo bà Âu Cơ lên núi; tôi sẽ cho các em xem hình những đồng bào sống trên miền núi và xem những sinh hoạt của các người ở vùng đồng bằng; sau đó tôi mới cho các em ở vùng đồng bằng chọn ra em nào lớn tuổi nhất, và em đó sẽ là vua đầu tiên của nước Việt, gọi là Vua Hùng Vương, thì đó là cách dẫn nhập các em vào các triều đại đầu tiên là triều đại Hồng Bàng.

Viễn Đông:
Khi dạy các em về lịch sử, Nhóm chủ trương vừa đưa ra huyền thoại bà Âu Cơ và Lạc Long Quân; mà đã gọi là huyền thoại, tất nhiên là không có thật. Vậy quý vị nghĩ thế nào khi dạy cho các em điều không có thật trong lịch sử và văn hóa Việt?
GS. Doãn Kim Khánh: Tôi đồng ý, huyền thoại chắc chắn là không có thật, nên đối với các em thật nhỏ chúng sẽ vui, chúng không trăn trở về chuyện đó, nên mình kể cho các em nghe như kể chuyện cổ tích, và mình cũng nói cho các em nghe đây chỉ có tính cách tượng trưng thôi. Câu hỏi của anh đưa ra tôi rất là quan tâm. Khi tôi đưa vấn đề này vào chương trình dạy tại Đại học của tôi, trước khi tôi bắt đầu cái Workshop này với sinh viên, tôi đã giáo đầu trước về vai trò của huyền thoại trong nhiều lịch sử của các nước, không riêng gì Việt Nam. Mình dạo qua nước Nhật và nhiều nước khác, mình phải chỉ cho các em có cái nhìn khi nghe huyền thoại của 4 ngàn năm về trước, để các em lấy cái vui là chính, chứ không phải nhìn bằng cặp mắt thực tế. Khi mình tiến dần đến chỗ thực tế hơn, hiện tại hơn, thì các em sẽ thấy lịch sử nó thực hơn; nhưng mà vì lịch sử dân tộc mình quá dài, cho nên cái chuyện huyền thoại từ thuở sơ khai đó nó cũng dễ giải quyết.

Viễn Đông: Như giáo sư vừa nói, lịch sử của mình có một quá trình rất dài, từ những huyền thoại đến chuyện có thật, như vậy phải mất thời gian bao lâu để hoàn tất chương trình Vui học lịch sử, văn hóa Việt?
GS. Doãn Kim Khánh: Chúng tôi phải làm rất gọn lại, chương trình không chỉ có lịch sử mà có văn hóa nữa, nhưng chúng tôi chưa đề cập đến văn hóa, chỉ chú trọng đến lịch sử trước, vì không muốn làm các em choáng ngợp về chiều dài lịch sử như anh nói, nên bốn giai đoạn mà tôi đưa ra, thứ nhất là lịch sử Dựng nước, thứ hai là lịch sử Giữ nước, thứ ba là lịch sử Mở mang bờ cõi, thứ tư là lịch sử Tỵ nạn, một vấn đề vô cùng khó khăn khi phải đề cập đến. Bốn vấn đề đó, chúng tôi làm bốn Workshop và chia ra hai cấp. Cấp 1 từ 9 đến 15 tuổi, cấp 2 từ 16 đến hết bậc College tức là khoảng 22, 23 tuổi. Tóm lại trong 4 workshop đó, chúng tôi chú trọng chủ đề và kể chuyện là chính, vì như chúng ta thấy, lịch sử chính là một câu chuyện.

Viễn Đông: Sau Workshop đầu tiên tại Viện Việt Học, Giáo sư có tổ chức tiếp tại địa điểm khác hay không?
GS. Doãn Kim Khánh: Sau buổi Workshop đầu tiên tại Viện Việt Học vào lúc 3 giờ chiều thứ Bảy ngày 15-1-2011, chúng tôi sẽ tổ chức các Workshop lưu động nếu có yêu cầu của các cơ quan, đoàn thể hay các Trung tâm Việt ngữ. Xin liên lạc với chúng tôi: Doãn Kim Khánh (714) 487-3067 - Cô Thụy Minh Hồng (714)595-5769 - cô Kim Ngân (310)704-0667 hoặc email: info@viethoc.com.

Viễn Đông: Xin cám ơn Giáo sư Doãn Kim Khánh và Thầy Nguyễn Minh Lân.

Source: http://www.viendongdaily.com/Contents.aspx?item=0&contentid=9820





Apr 2, 2011

MẨU CHUYỆN DU CA - Anh Quân


Bài hát du ca Việt Nam đầu tiên tôi được học hát là bài "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ”, mà người ca sỹ trong nhóm du ca mà tôi đầu tiên tôi được gặp là Trần Đình Quân. Lúc đó tôi mới được 9 tuổi thì tôi làm sao biết Du Ca là cái gì. Đi học ở trường thì đến giờ học hát, cô giáo dạy các bài như “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”, “Nối vòng tay lớn”, “Sư Phạm Thực Hành hành khúc”.... thì cứ vỗ tay theo nhịp bạn bè mà hát. Còn chuyện tôi gặp ca sỹ Trần Đình Quân thì tôi làm sao hiểu nổi phong trào du ca của ông. Lúc đó tôi chỉ biết là mẹ tôi nói Chú Quân đi du học chung với mẹ tôi tại Úc vào năm 1972 , nay vào Sài Gòn chơi, cùng đi chung với cô Hương (vợ chú) sẽ đến nhà ăn cơm. Sau đó mẹ tôi nói thêm là chú Quân có sang tác nhạc Du Ca và dạy học ngoài Đà Nẵng. Mãi cho đến khoảng năm 1985 hay sao đó, tôi nghe tin nhạc sỹ Trần Đình Quân tới Mỹ và có làm việc cho tờ báo “Người Việt”. Đến năm 1991, tôi đi Mỹ chơi, có đến tòa soạn Người Việt là thứ nhất gặp ông Tự vì ông này trước kia có sống tại London, tôi có quen, nên ghé thăm thì được bết ông làm việc cho tờ “Thế Kỷ 21”, văn phòng kế bên. Kế tiếp là vào chào nhạc sỹ Trần Đình Quân vì ông là bạn của mẹ tôi.

Cho đến cuối thập niên 90, mẹ tôi có qua thăm ông Trần Đình Quân, nhưng lúc đó ông đã vướng vào bệnh “Đãng Trí”, không biết sao lúc gặp mẹ tôi, ông lại tỉnh ra đôi phần và nói với mẹ tôi là không được rồi bà ơi ! Chắc ông tin là mình không còn kéo dài mạng sống của mình. Vài năm sau thì ông qua đời nhưng mẹ tôi cũng không hơn gì ông là cũng vài năm kế tiếp đi thăm ông ở thế giới bên kia.

Khuôn mặt du ca thứ nhì tôi gặp là ông Đỗ Ngọc Yến. Lúc đó là khoảng năm 1997 hay 1998, ông cùng phu nhân đi du lịch châu âu và ghé thăm London. Trong khoảng 3 tiếng được ngồi nghe ông nói chuyện thì ông bàn về lãnh vực báo chí chứ không nói một câu chuyện du ca nào cả. Ông là người rất điềm đạm, cách nói chuyện ít pha trò như các nhà báo Việt Nam tôi gặp qua là ông Vũ Anh, Đinh Quang Anh Thái . Có lẽ vì bệnh tiểu đường nên ông Yến cũng ít nói hơn.

Vào thập niên 90, tôi có đặt mua báo tháng là tờ “Làng Văn”. Thời gian đó chưa có Internet nên báo in có rất nhiều độc giả. Tờ “Làng Văn” thành công là có nhiều cây bút hung hậu hợp tác. Nhất là khi ra giải thưởng văn chương cho các cây bút mới, Nhờ đó mà tôi say mê nhất bộ truyện phóng tác về xã hội đen của nhà văn Trường Sơn Lê Xuân Nhị. Có lẽ sau quyển “Bố Già” của Ngọc Thứ Lang dịch thì phải nói đến bộ “Sếp Al Capone” của Lê Xuân Nhị.

Mỗi tháng khi tờ Làng Văn tới tay, việc đầu tiên là tôi phải ngồi mê mẩn đọc truyện Al Capone, y như Sài Gòn ngày xưa là mọi người đợi báo đăng truyện Kim Dung. Sau đó là tôi đọc các tin tức sinh hoạt cộng đồng, tôi cũng hay thấy tin sinh hoạt Du Ca tại Hòa Lan do anh Nguyễn Quyết Thắng tổ chức và từ đó thì tôi biết tên anh Thắng và chỉ có vậy thôi. Ngoài tôi cứ nghĩ thì sống tại Ấu Châu thì sẽ có ngày gặp nhau. Vậy mà tôi nghe tên anh Nguyễn Quyết Thắng từ những năm 1995 , mãi cho đến năm 2010 tôi mới co duyên gặp được anh, mà cũng phải nói nhờ cô bạn tại Mỹ quen biết anh và gia đình anh, còn không thì tôi cũng chỉ nghe tên mà thôi.


Anh Nguyễn Quyết Thắng

Đến gia đình anh Thắng là thấy đầy màu sắc văn nghệ. Nghe anh chị Thắng kêu tên những người con thấy thích vô cùng vì mỗi cái tên đều có lien quan đến âm nhạc. Các nhà nghệ thuật luôn chọn tên con mình rất là phong phú, nghe qua một lần khó mà quên được, cũng như tên những người con của nhà thơ Trần Dạ Từ và nhà văn Nhã Ca. Anh chị Thắng rất là trẻ trung cho dù đã lên chức ông bà. Có lẽ tinh thần du ca đã chọ họ một cái nhìn lạc quan về xã hội và nhất là đóng góp phát triển cho xã hội. Đặc biệt ở trong một đất nước chiến tranh, mạng người không một giá trị. Anh chị đã nhìn thấy những điều mà tôi cũng như bạn bè chưa thấy, chưa nghe và không tưởng tượng nổi cái mà xảy ra trên đất nước Việt Nam gần 50 năm về trước.

Trong một tuần vừa qua, không biết bao nhiêu bài viết nói về nhạc sỹ Nguyễn Đức Quang, có người quen ông rất là nhiều đã viết hết tất cả về ông. Có người chẳng quen ông cũng viết được về ông. Tôi ngồi đọc hết tất các bài về ông đến nỗi không quen ông mà cũng có cảm giác biết về ông. Cái này có thể gọi thấy gởi nổi tiếng, nhận làm quen, mà giờ ông mất rồi nhận quen càng dễ nữa vì đâu có ai làm chứng.


Chuyện mà tôi thích nhất là vào tháng 12 năm 2007, khối 8406 tại Sài Gòn đứng lên chống Trung quốc chiếm Trường Sa và Hoàng Sa. Họ đã đồng ca bài “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” sau 32 năm chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, chưa có một bài hát nào trước 1975 được chính thức đồng ca tại chốn công cộng. Nhiều người sanh sau đẻ muộn họ đã hát và hát một cách nồng nhiệt , đâu khác một Hội Nghị Diên Hồng. Đây là một lý tưởng , một điều nhạc sỹ Nguyễn Đức Quang cũng như anh chị Nguyễn Quyết Thắng đã làm là trong một xã hội bi quan mà bài hát và tiếng hát của họ đã mang đầy sự hy vọng. Không buồn bã và đầy thất vọng như nhạc Trịnh Công Sơn, không nhẹ nhàng như bài “Việt Nam, Việt Nam” của Phạm Duy. Tiếng ca của Du Ca mang đầy nhiệt huyết, một tình thần Hướng Đạo, một sinh hoạt đầy tình thương như Gia Đình Phật Tử và hoạt động hướng thiện để bớt nổi đau thương trong xã hội này.

Nhạc Sỹ Nguyễn Đức Quang và nhóm du ca sinh hoạt hoàn toàn bất vụ lợi, họ không giàu về vật chất nhưng giàu về tinh thần, vì đây là một tình thần bất diệt, mãi mãi sẽ không bao giờ mất. Người ta có thể không nhớ nhạc sỹ Nguyễn Đức Quang nhưng người ta sẽ không bao giờ nói không biết bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” và nhóm Du Ca.


Người ngoại quốc họ đã tự hào đất nước họ có những người tham gia Hướng Đạo từ thưở bé, nhờ đó khi họ hớn lên trở thành người nổi tiếng như bên Mỹ , phi hành gia Neil Armstrong, người lên mặt trăng đầu tiên, sau đó 10 phi hành gia khác lên cung trăng cũng là Hướng đạo sinh. Diễn viên Harrison Ford nhờ tham gia hướng đạo nên diễn xuất vô cùng xuất sắc trong vai Dr Jones của phim Indiana Jones và Đạo Diễn Steven Spielberg cũng là hướng đạo sinh nhờ vậy ông đã tạo ra một hình tượng Dr Jones và nhiều cuốn phim của ông được xem là phim “Hay nhất trong mọi thời đại” hay “100 phim hay phải xem trước khi chết”. Các vị Tổng Thống Mỹ là ông George Bush, Bill Clinton và Johm F Kennedy là hướng đạo sinh. Ngoài ra còn có nhà tỷ phú Bill Gate và ca sỹ Jim Morrison của ban nhạc DOORS. Còn bên Anh quốc là cầu thủ bong đá là David Beckham và Michael Owen. Cựu Thủ Tướng John Major và đặc biệt là nhà thám hiểm trứ danh thế giới là Sir Ranulph Fiennes, cuộc đời của ông là leo trèo từ núi qua đá băng, ông có nói nếu ông không là hướng đạo sinh là ông đã chết nhiều năm về trước vì cách cột dây nút dẹp hay nút kép (Reef knot) đã giúp ông trong lúc đi chinh phục thiên nhiên vì lúc đang leo núi không biết cột theo kiểu nút dẹp là sẽ té lăn ra mà chết. Sir Ranulph được xem một người già đã đi chinh phục ngọn Erverest, đó là vào năm 2009, lúc đó ông được 65 tuổi.

Vậy quay lại đất nước chung ta, nếu ai có hỏi tôi người Hướng Đạo Sinh nào là tiêu biểu cho đất nước Việt Nam thì tôi sẽ không ngần ngại trả lời ngay tức khắc là nhạc sỹ du ca Nguyễn Đức Quang vì ông đã hội đủ mọi diều kiện, những gì ông đã đóng góp cho đất nước Việt Nam quá đầy đủ và không hổ thẹn con cháu Lạc Hồng cũng như truyền thống hơn 100 năm Hướng Đạo.
Nguyện cầu hương linh Nhạc Sỹ Nguyễn Đức Quang sớm tiêu diêu miền cực lạc.

ANH QUÂN


Photos: hình ảnh "Chiều Du Ca - Nguyễn Đức Quang" 03/13/11 tổ chức tại Quận Cam - Hoa Kỳ