Jan 22, 2024

CÔ ÚT CA (CÔ ÚT LÌA QUÊ)


https://youtu.be/3cV_C6u6Iw0?si=l3jgjV_sP2h4i-3l

 

Dec 26, 2023

SINH NHẬT CA - út Hương

 


https://youtu.be/vvX7sJiFilQ?si=MwwSXxbzE1vwF8E2



BÌNH CA - Doãn Quốc Hưng

 

https://vietbao.com/p301417a317793/50-nam-hoa-uoc-paris-nghe-lai-binh-ca-pham-duy

Dec 8, 2023

NHỚ CHÚ NGUYỄN ĐÌNH TOÀN VÀ NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG BAO GIỜ QUÊN - Doãn Quốc Sỹ



Lúa Thủ Thiêm ngọn chìm, ngọn nổi
Gió xa lộ lúc thổi, lúc ngừng
Gặp nhau tay bắt mặt mừng
Vui thì vui vậy, biết chừng nào xa…

(Nguyễn Đình Toàn -1984)

Bốn câu thơ này được bố tôi (nhà văn Doãn Quốc Sỹ) ghi lại như một giai thoại văn học, làm lời tựa cho tác phẩm Mình Lại Soi Mình. Bố tôi kể rằng khoảng năm 1984, phong trào vượt biên đang rầm rộ. Một người bạn mới gặp đó, mà hôm sau đã vượt biên rồi! Vào một ngày đẹp trời, bố tôi đạp xe từ Sài Gòn qua Làng Báo Chí bên kia cầu xa lộ để thăm chú Nguyễn Đình Toàn. Đến giữa cầu thì thấy chú đang đạp xe theo chiều ngược lại, cũng định đến thăm mình ở căn nhà hẻm Thành Thái. Hai người bạn gặp nhau giữa cầu. Có lẽ chú Toàn đã nhìn những cánh đồng lúa bên Thủ Thiêm, tức cảnh sinh tình, ngẫu hứng làm ra bốn câu thơ này.

Lúc đó chú Toàn cũng không ngờ người bạn vong niên của mình sắp chia tay để đi xa, nhưng không phải là đi vượt biên. Vào đầu Tháng Năm 1984, Doãn Quốc Sỹ cùng một số văn nghệ sĩ Miền Nam khác bị bắt lần thứ hai, vì tội chuyển các tác phẩm của mình ra nước ngoài để phổ biến. Thời điểm đó cũng khép tạm khép lại những ngày tháng khốn khó nhưng cũng là đẹp nhất trong giai đoạn sau 1975 của gia đình tôi và một số gia đình thân hữu văn nghệ sĩ khác, trong đó có chú Nguyễn Đình Toàn.

“Những Ngày Xưa Truyện Đẹp”của chúng tôi, theo cách nói của nhà báo Trần Đại Lộc, kéo dài từ đầu năm 1980 cho đến Tháng Năm 1984. Nó bắt đầu từ lúc bố tôi được trả tự do từ trại tù Gia Trung Pleiku ngay trước tết nguyên đán, và kết thúc khi bố tôi đi tù lần thứ hai. Trong bốn năm ngắn ngủi này, căn nhà của bố tôi là nơi gặp gỡ của nhiều văn hữu Miền Nam: Nhã Ca, Hoàng Hải Thủy, Duy Trác, Dương Hùng Cường, Thái Thanh, Trần Quang Lộc… Chúng tôi gần gũi, thân thiết với gia đình chú Toàn cũng trong thời gian này. Trước 1975, bố tôi chắc chắn có biết nhưng không thân với chú Toàn. Sau biến cố Tháng Tư Đen, giới văn nghệ sĩ vì chung hoàn cảnh thất thế trước thời cuộc, cho nên gần gũi với nhau hơn. Bố tôi đi tù lần đầu tại trại Gia Trung, ăn cơm tù chung với Trần Dạ Từ, Thanh Thương Hoàng… Doãn Quốc Sỹ được thả lần đầu năm 1980, chú Duy Trác được tự do khoảng một năm sau đó. Những người mới trở về làm cái nhân để kết nối sự gặp gỡ của nhiều văn nghệ sĩ khác, tạo nên một khoảng thời gian đặc biệt cho một số văn nghệ sĩ ở lại Việt Nam sau 1975, như lời bài hát Ở Lại Để Thấy mà chúng tôi vẫn thường ngân nga trong giai đoạn đó:

…Ở lại để thấy những nỗi vui không đến tình cờ
Ôi nỗi vui nào cũng âu lo…

Vui sướng - âu lo là hai phạm trù trái ngược. Nhưng có âu lo thì nỗi vui mới được hân hưởng thực sự. Trong những năm tháng đầu tiên sau 1975, nỗi lo lớn nhất là cơm áo gạo tiền. Khi những người văn nghệ sĩ bị tịch thu ngòi bút, việc bương chải kiếm sống khó khăn hơn nhiều so với tầng lớp khác trong xã hội. Khi các ông đi tù, thì thường các “bà Tú Xương” và các con phải tự tìm cách xoay xở, chỉ cho nhau kế sinh nhai trong thời buổi gạo châu củi quế. Trong khoảng thời gian đầu thập niên 1980s, cô Oanh vợ của chú Dương Hùng Cường đã khởi xướng cho một nghề thú vị, giúp cho nhiều gia đình văn nghệ sĩ có kế sinh nhai: nghề bán “căn tin” (canteen) trường học. Cô Oanh dạy ở trường Hồng Bàng, nhận ra rằng mỗi năm trường có đấu thầu để chọn người bán thức ăn uống cho học sinh ở căn tin trường. Thấy người bán thức ăn với giá khá mắc, cô nghĩ đến chuyện đấu thầu căn tin, bán với giá rẻ hơn nhưng vẫn đủ tiền nuôi con và nuôi chồng đi tù. Cô làm năm đầu tiên thấy thành công, từ đó kêu gọi các gia đình văn nghệ sĩ khác làm điều tương tự ở những trường khác. Gia đình chú Duy Trác bán căn tin trường Mạch Kiếm Hùng Quận Năm; gia đình tôi bán tại trường Petrus Ký- Lê Hồng Phong, có gọi con của chú Toàn đến bán phụ. Thời đó, các gia đình liên lạc với nhau đều đặn, chỉ nhau những mối lấy thức ăn ngon và rẻ, truyền nhau kinh nghiệm bán hàng sao cho có lãi. Thân với nhau thêm là vì vậy. Cực, nhưng vui vì đỡ lo gánh nặng kiếm việc làm.

Bán được một thời gian thì chú Dương Hùng Cường mất trong tù. Cô Oanh mất sau đó không lâu vì tai nạn xe cộ. Họa vô đơn chí! Chúng tôi tìm mọi cách để vực dậy tinh thần các em con của cô chú, đùm bọc lẫn nhau. Cũng may mắn, con cái cô chú Cường vượt qua được giai đoạn khó khăn nhất, về sau này vươn lên thành công trong xã hội Việt Nam. Chúng tôi nói rằng chắc nhờ cô chú phù hộ.

Trở lại với chú Toàn, chú đến nhà tôi chơi nhiều nhất cũng trong khoảng thời gian 1980-1984, sau khi bố tôi và chú Duy Trác đi tù đợt một trở về. Đó là giai đoạn mà chú thỉnh thoảng đạp xe về Sài Gòn để thăm bố tôi, chú Trác; và chúng tôi thường xuyên hơn đạp xe lên lên Làng Báo Chí để chơi với con chú Toàn, con bác Thanh Thương Hoàng. Trong những buổi họp mặt, chú Toàn luôn là một con người trầm mặc. Tôi còn nhớ điều gây ấn tượng mạnh nhất của chú Toàn đó là phong thái nhã nhặn, lịch sự. Điều mà người ta hay nhắc đến với những người Hà Nội thuộc năm tháng cũ. Hình ảnh chú cầm ống pip, châm lửa, thở khói thuốc đều rất khoan thoai, nghệ sĩ. Phong cách đó của chú vẫn giữ nguyên trên bàn mạc chược. Khoảng năm 1977, gia đình giáo sư Nguyễn Tư Mô mang một cái bàn mạc chược đến nhà tôi. Sau đó vài năm, cái bàn mạt chược này trở thành nơi gặp gỡ của nhiều văn nghệ sĩ trí thức Miền Nam: chú Trác, chú Toàn, nhà báo Lê Đình Điểu, Hà Tường Cát, Trần Đại Lộc. Có lần có cả bác Vũ Đức Duy nữa. Chú Toàn đánh mạt chược thường thua nhiều hơn thắng. Chúng tôi còn nói đùa rằng người hào hoa lịch thiệp như chú thì nhất định phải “đen bạc”, bởi vì “đỏ tình” là điều khó tránh khỏi.

Sự lịch thiệp còn thể hiện qua các sinh hoạt văn nghệ ngay trong thời buổi kinh tế khó khăn, và công an thường xuyên theo dõi giới văn nghệ sĩ. Hồi đó, chúng tôi thường có những buổi văn nghệ bỏ túi ở nhà tôi, nhà chú Duy Trác. Hát ở nhà chưa đủ thấy lãng mạn, có người nghĩ đến việc ngồi trên đò ra giữa sông Gài Gòn để hát. Những buổi hát trên đò như vậy thường xuất phát từ nhà họa sĩ Nghiêu Đề ở cư xá Thanh Đa bên bờ sông Sài Gòn, bên kia bờ là Làng Báo Chí. Tay đàn chính là nhạc sĩ Trần Quang Lộc. Gia đình chú Duy Trác, chú Toàn, vợ chồng bác sĩ Dũng-Lệ, hoạc sĩ Vũ Trong Khôi… là những người thường  có mặt. Trong những đêm trăng, ngồi trên một con đò nhỏ, hát cho nhau nghe bằng cây đàn thùng. Sự thanh tao thể hiện rõ qua cách chơi, trong thời buổi mà cả xã hội chỉ lo đến cơm áo gạo tiền…

Đối với tôi, một trong những dịp thể hiện rõ nét về phong cách của chú Toàn đó là khi chú cầm đàn tự đàn và hát những ca khúc của mình. Là thế hệ sinh sau, đẻ muộn, tôi không có dịp biết nhà văn, nhà thơ Nguyễn Đình Toàn trước 1975, cái thời mà chú làm mê mẩn cả nước với chương trình Nhạc Chủ Đề. Nhưng tôi thực sự cảm nhận tính chất thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ của chú trong những buổi chiều cuối tuần, chỉ có hai chú cháu, chú cầm đàn hát những ca khúc mới của mình sau 1975. Chú bình luận về nhạc Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến… rồi giải thích về những ca khúc mình mới sáng tác. Có nhiều người nói rằng bác Phạm Duy hát một số ca khúc của mình là hay nhất. Tôi nghĩ rằng điều này cũng đúng với chú Toàn. Bởi vì không có ai có thể hiểu hơn tác giả tại sao chọn ca từ này, giai điệu kia trong ca khúc. Trong một buổi chiều khi nói về những bạn bè đã và sắp vượt biên, chú cầm đàn và hát:

…Yêu em lửa đỏ thiêu ta
Yêu em địa ngục than tro
Yêu em khi đất nước không còn chi
Ai đi đi mất không người quay về
Không ai còn nhận ra ai
Sao em vào được tim tôi
Đêm qua ai trốn ra ngoài phương trời
Bao nhiêu thân xác chôn vui giữa khơi…

Rồi nhắc đến một Sài Gòn hoa lệ trước 1975, nhớ những người bạn văn nghệ sĩ nay ở khắp chốn phương trời, chú hát:

…Sài Gòn ơi, đâu những ngày mưa mùa khoác áo đi

Tay cầm tay nói nhỏ câu gì
Đâu quầy hoa, quán nhạc đêm về
Đâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly
Sài Gòn ơi, thôi hết rồi, những ngày hát bên nhau
Đâu Phạm Duy với tình ca sầu
Mắt lệ rơi khóc thuở ban đầu
Còn gì đâu…

Chú đàn chầm chậm, thường là nhịp điệu theo cảm hứng. Giọng chú hát thật nhỏ, ngân nga trầm bổng giai điệu, như kể lể về những niềm nhớ không tên của mình, bằng cái giọng mê hoặc của chương trình Nhạc Chủ Đề thuở nào. Thật là một cảm xúc khó tả…

Sau đó một thời gian, không nhớ rõ vì sao mà chúng tôi có được cuốn cassette từ hải ngoại gởi về, Tắm Mát Ngọn Sông Đào qua giọng hát của Khánh Ly. Vào thời điểm đó, nghe Khánh Ly hát những ca khúc từ trong nước gởi thì chỉ có “đứt ruột!”, như cách nói của người bạn Đ.K trong nhóm. Lúc đó, không mấy ai biết tác giả của nhiều ca khúc trong cassette là của Duy Trác, Nguyễn Đình Toàn. Khánh Ly hát hay thì không phải bàn thêm, nhưng tôi vẫn nhớ nhất những bài hát đó qua chính giọng hát của chú Toàn, độc nhất vô nhị…

Về sau này, khi ở Mỹ, khi chú cho xuất bản tác phẩm Thơ & Ca Từ vào năm 2022. Nhờ vậy tôi mới biết lời của nhiều bài nhạc là thơ của chú sáng tác. Đọc thơ, nghe nhạc, hát lời ca của Nguyễn Đình Toàn, thật khó mà đoán cái nào được sáng tác trước. Hình như đối với ca khúc Nguyễn Đình Toàn, lời hát đã là một bài thơ, và trong giai điệu đã có sẵn ca từ. Một sự thể hiện trọn vẹn tính cách thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ chỉ trong một con người…

Bây giờ chú Toàn đã đi xa. Đã có rất nhiều bài viết nói về người văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ tài hoa này. Nhưng đối với gia đình tôi, chú Toàn vẫn gắn liền với những ngày tháng khốn khó nhưng đầy kỷ niệm sau 1975 ở Sài Gòn. Những “Ngày Xưa Truyện Đẹp”, những năm tháng không bao giờ quên…

Doãn Quốc Hưng

 

Nov 23, 2023

SAIGON BOOKSTREET - Anh Quân




Có lẽ hồi bé thích sách , nên về già luôn có cái duyên gần sách vở nhưng giờ không còn siêng năng đọc sách như thuở tuổi Xì Tin. Mà nghĩ lại cái thời đó đâu có cái gì giải trí, làm gì có trò chơi điện tử , làm gì có máy tính , chương trình TV thì nghèo nàn , coi chán chết , thì chỉ có trò chơi hè phố là đá banh , chơi bắn bi , đánh bông vụ , chơi đánh trõng , chơi bắn ống thụt, chơi u , nhảy cò cò , nhảy dây , nếu có cơ hội là đi bơi . Bởi vậy đọc sách là một thú vui rất quan trọng , nhất là ở cái thời cái gì cũng cấm. Nên có những quyển sách phải đọc lén lút như kiếm hiệp ( ăn khách nhất trong đám xì tin của chúng tui), tiểu thuyết Quỳnh Dao , nếu hay hơn là tìm được sách Nghiêm Lệ Quân, Bà Tùng Long , Duyên Anh , Dung Sài Gòn, Võ Hà Anh, các sách củ Tự Lực Văn Đoàn … Còn các quyển “Cậu Chó” thì ở tuổi dưới 15 như tui là chưa đủ trình độ đụng tới. Tuy nhiên ở thời đó thì các bác có uy quyền lại cho đọc truyện Tàu , loại sách do nhà in Tín Đức Thư Xã xuất bản như Tây Du Ký , Thuỷ Hử , Thất Hiệp Ngũ Nghĩa , Phong Thần… Nhà tui ở phía cư xá ngân hàng , cứ một tuần là tui đạp xe lên chợ Xóm Chiếu , đường Đỗ Thành Nhân , giờ là Đoàn Văn Bơ , thì có một bác cho thuê loại truyện Tàu này. Tui cứ thuê và say mê đọc đến nổi năm lớp 7 suýt nữa ở lại lớp. 

Sau này qua Anh sinh sống tui lại có cơ hội đọc tiếp sách Việt Nam trước 1975 và các loại sách sáng tác ở hải ngoại, nhờ chính sách mua sách cho cư dân địa phương , cứ 4 người có quyền đi ra thư viện địa phương mua một quyển sách mà họ yêu thích. Nên vậy khu nào có nhiều dân Việt Nam thì thư viện sẽ mua sách Việt Nam cho đọc. Có điều giờ họ không mua nữa vì số lượng đọc giả Việt Nam không còn nữa , vì một số qua đời, một số cao niên không muốn đọc nữa vì sức khoẻ. Còn nhóm lớn lên ở đây không đọc sách Việt Nam. Riêng nhóm từ Việt Nam mới sang Anh thì xem ra họ không mê đọc sách, tui thấy họ thích xem tin tức trên mạng xã hội trên chiếc phone của họ hơn. 

Vào ngày 15 tháng 10 năm 2015 Sở Thông Tin và Truyền Thông Thành phố đã khởi công xây dựng con Đường Sách trên đường Nguyễn Văn Bình là tên Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, phường Bến Nghé, Quận I TP. HCM. Đây là một con đường nhỏ nằm bên hông Bưu điện Thành phố, nối liền Nhà Thờ Đức Bà và đường Hai Bà Trưng nhưng có ưu điểm là nằm ngay trong khu vực trung tâm Thành phố, đây không chỉ là một không gian sinh hoạt văn hoá mà còn là một tụ điểm du lịch, là nơi thường xuyên có nhiều du khách ghé qua. Có một điều tui không biết trước năm 1975 có tên con đường này chưa? 

Sau gần 3 tháng thi công ngày 09.01.2016, Đường Sách chính thức được khai trương. Chỉ với con đường nhỏ chiều dài 144 m, lòng đường 8 m, hai bên vỉa hè rộng 6 m, với thiết kế một bên là 20 gian hàng sách, một bên là café sách và khu triển lãm. 

Đường Sách đã trở thành một không gian khá lý tưởng để các nhà xuất bản, nhà kinh doanh sách có cơ hội học hỏi chia sẻ những kinh nghiệm nghề nghiệp, và cả tiếp cận với giới bạn đọc. Đường Sách trở thành một không gian biểu tượng của văn hoá đọc, nơi gặp gỡ của những người yêu sách, cũng là điểm hẹn lý tưởng cho những người bạn trong và cả ngoài nước.

 Đi tới Đường Sách, sẽ thấy các bạn trẻ đứng ngồi tĩnh lặng say mê đọc sách, gợi lại hình ảnh thật đẹp của Sài Gòn trước 1975 với đường sách Lê Lợi, nhà sách Khai Trí thuở nào

Trước năm 1975 , Sách là món ăn tinh thần của người Sài Gòn , xin hãy đọc lại tư liệu trích trên mạng: 

“Các khu bán sách báo cũ nằm rải rác nhiều nơi ở Sài Gòn ngày nay đã trở nên gần gũi với một phần lớn dân chúng thành phố. Thường lệ và đặc biệt vào các chủ nhật và ngày lễ, khách hàng thuộc đủ giai cấp xã hội tấp nập đến các khu sách báo cũ chọn mua những món ăn tinh thần với giá rất hạ”. Đoạn trích này từ báo Đời (tháng 5.1972) nói về khu vực bán sách báo cũ ở ngã tư Lê Lợi và Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) - nằm sau bờ tường của Bộ Công chánh. Ngoài khu Lê Lợi, Sài Gòn còn có những điểm bán sách nổi tiếng như Lê Văn Duyệt (Cách Mạng Tháng Tám), bên cạnh rạp Nam Quang, Trương Tấn Bửu (Trần Huy Liệu)...

Theo tư liệu, khoảng thời gian ký Hiệp định Genève, các khu bán sách cũ tập trung ở đường Cao Thắng rồi tiến lên khu vực chợ Cũ, bày bán từng đống hỗn tạp tại lề đường Tôn Thất Đạm thông ra đường Nguyễn Huệ. Cũng trong thời gian này, các quầy sách cũ còn xuất hiện trên lề đường Phạm Ngũ Lão, trông sang bến xe buýt, kéo dài xuống tận ngã tư Ký Con. Sau này, nhờ sự tiếp tay của một số dân bán sách cũ kiểu hàng rong, các gian hàng dần dần ào ạt tràn về đường Lê Lợi, giới hạn từ bót cảnh sát Lê Văn Ken (Bệnh viện đa khoa Sài Gòn) đến đường Pasteur. Từ vài gian hàng nhỏ, thị trường sách báo cũ đã bành trướng mạnh mẽ, lấn ra lề đường cản trở lưu thông nên cảnh sát đến giải tán triệt để. Song những gian hàng sách “chạy” chỉ tản mác khi có bóng dáng cảnh sát rồi lại trở về vỉa hè khi cảnh sát rút đi như chơi cút bắt. Rất kiên nhẫn đối phó với cảnh sát nên một thời gian sau, khu bán sách này được Tòa Đô chánh chấp thuận cho tồn tại, có đóng thuế đất hằng năm vài ngàn đồng và vài chục đồng thuế chỗ ngồi mỗi ngày. Khu sách Lê Lợi đã vô sổ bộ từ ngày ấy.” 

Ở phố sách này có “Quán Sách Mùa Thu” , có người kể lại tại đây sẽ tìm được những cuốn sách cũ, rất cũ xuất bản lần đầu tiên từ những thập niên 50s, 60s, 70s tại Sài Gòn. Người đó lại còn hỏi thêm người chủ quán có bán quyển  Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam. Được biết, các quán sách tuy không có sách nhưng vẫn có thể nhờ kiếm hay đặt mua.  Họ có thể liên lạc hải ngoại mua sách và trả bằng thể tín dụng. Có thể một ngày sẽ có quyển Mùa Hè Đỏ Lửa tại đây. 

Riêng tui thấy sách bây giờ ấn loát rất đẹp , cũng có một số sách tui thích nếu có sức thì tui sẽ mua. bộ sách đồ sộ 10 cuốn nghiên cứu về thời Tây Sơn và quan hệ với triều đại nhà Thanh của Tiến Sĩ Sử Học Hải Ngoại Nguyễn Duy Chính. 

Để có một dịp nào tui hỏi thử Bác Sử Gia Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng tại London là có tính đưa 5 quyển sách sử nghiên cứu của Bác là “Nhìn Lại Sử Việt” về bán ở các nhà sách ở Đường Sách Nguyễn Văn Bình chưa? Theo tui đây là bộ sử hay có phần tương tự như bộ “Việt Nam Sử Lược” nhưng đầy đủ chi tiết từ ngày lập quốc cho đến 30 tháng 4 năm 1975.

Anh Quân 




Nov 22, 2023

ĐÔI BẠN LÊ XUÂN KHOA - DOÃN QUỐC SỸ - Doãn Cẩm Liên

 


Đôi bạn này biết nhau từ thuở nào? 

Cụ Sỹ khi ngồi trên xe, được con chở đến điểm hẹn, thắc mắc hỏi con gái:

- Bác Lê Xuân Khoa dạy với bố ở trường nào hở con?

- Câu hỏi này chút nữa mình sẽ hỏi bác ấy nha bố.

Cụ Sỹ phải hỏi thêm vài lần nữa những câu tương tự và nhận được câu trả lời tương tự như trên, cho đến khi tay bắt mặt mừng với cụ Khoa. Khi hai cụ đã ngồi yên ấm bên nhau, trên một ghế rộng ngoài hiên một tòa nhà lớn tại Quai Hill Community Center – Irvine. Cụ Khoa giải tỏa liền thắc mắc cho bạn và con cùng cháu nghe:

- Bác và bố cháu học với nhau cùng một lớp tại trường Văn Khoa Hà Nội. Lớp đó có bạn Lê Hữu Mục, Lê Thành Trị, Phạm Việt Tuyền, Lý Quốc Sỉnh… Thế nhưng khi ra trường chọn nhiệm sở đi dạy học thì bác chọn trường Pétrus Ký tại Sài Gòn. Năm ấy là 1953. Với ý muốn là vào Nam, dạy tại trường này bác có thể dễ dàng xin đi du học tại Pháp. Vì lúc ấy miền Nam còn là thuộc địa của Tây mà.

- Còn bố Sỹ cháu thì chọn dạy tại trường Chu Văn An. – Bác Khoa nói tiếp. 

Con gái cụ Sỹ thay mặt bố hỏi tiếp:

- Thế nhưng bác và bố cháu sát cánh làm việc với nhau ở đâu ạ?

- Sau khi bác đi du học ở Pháp về thì cùng dạy với bố cháu ở đại học Văn Khoa Sài Gòn. Và cả hai cùng là hội viên của Hội Văn Hóa Á Châu và Hội Văn Hóa Dân Tộc mà cụ Nguyễn Đăng Thục làm chủ tịch.

Cụ Sỹ nghe bạn nói, thế nhưng nhớ được bao nhiêu chuyện xưa thì nào ai biết được! Dường như Cụ không còn màng đến chuyện xưa, chuyện nay, chuyện ngày mai nữa thì phải!

Chuẩn bị cho buổi gặp gỡ này, cụ Sỹ rất hồn nhiên vì cụ nào nhớ gì để kể. Riêng cụ Khoa thì chuẩn bị kỹ càng lắm: một phong bì bên ngoài ghi chữ “DQS”. Cụ lôi ra một xấp hình:

- Này ông xem xem ai đây? – Cụ Khoa đưa cho cụ Sỹ xem ngay một hình.

- Ôi iii… mắt tôi kèm nhèm lắm, ông à. – Ông Sỹ liếc nhìn mà dường như không thấy!

- Này nhé: đây là ông và bà xã, tôi đây, còn đây là bà Ưởn và phu quân, đây là Như Phong - Lê Văn Tiến, còn những người kia tôi chẳng nhớ tên. Ở nhà ông đấy.

Câu chuyện kể từ đây là do bác Lê Xuân Khoa kể, ông Sỹ chỉ ậm ừ vì nào có nghe được mấy và thấy gì đâu.

- Lần ấy, tôi từ Mỹ về Hà Nội làm việc. Hình như năm 1982 thì phải, tôi hỏi tên công an xếp sòng ở Hà Nội làm sao thăm được các bạn tại Sài Gòn, có bạn đã ra tù và có bạn vẫn còn ở trong tù. Tên công an ngần ngừ bảo “Người đã ra khỏi tù thì ông thoải mái thăm, nhưng người còn trong tù thì không nên. Vì chúng tôi còn phải làm nhiều thủ tục lâu lắm, có khi đến cả tháng mới được.” Thế là lúc ấy tôi thăm được Như Phong - Lê Văn Tiến và ông vì cả hai đã ra khỏi tù rồi. Vậy mới có tấm hình này đây.

- Hôm ấy tôi đến nhà ông và ngỡ ngàng vì một bàn tiệc do bà Sỹ chuẩn bị với một số đông các bạn của cả tôi lẫn của ông. Tôi bảo với bà Sỹ:

- Trời ơi, sao chị làm tiệc linh đình thế này? 

- Tiền anh đưa dư lắm, tôi làm cho hết số tiền ấy. – bà Sỹ trả lời tôi thế.

Cụ Khoa quay sang hỏi bạn Sỹ:

- Đông thế này thì ông có sao không? Tôi đến rồi về lại Mỹ, còn ông ở lại thì làm sao đây? Và ông trả lời tôi như thế này mới hay: “Nếu có chuyện gì thì lại vô!”

- Còn đây tấm hình này đặc biệt lắm, ông nhìn ra ai không?

Cụ Khoa lại đánh đố cụ Sỹ nữa rồi! Cụ Sỹ lại đổ tại rằng “Tai tôi bây giờ nghễnh ngãng lắm, nghe cứ ù ù ông ạ!” Cụ Khoa lại thuyết minh tiếp về tấm hình:

- Đây là ông, đây là bà Sỹ bế thằng cháu nào đấy, và tôi. Cũng tại nhà của ông. Đằng sau có bức tranh của họa sĩ nào ấy tôi không nhớ.

- Và đây nữa, hôm ấy ông chở tôi bằng xe mobilette đến tòa soạn báo Bách Khoa, Lê Ngộ Châu chủ nhiệm báo Bách Khoa, Nguyễn Văn Trung, ông và tôi.

- Hình này thì thật quí hiếm, cũng vẫn là ông và tôi đi thăm cụ Nguyễn Đăng Thục. Cụ Thục còng lưng quá rồi nên tiếp khách phải nằm ngửa trên ghế, cạnh là cụ bà Thục.

- Đấy là những hình ảnh thật là quí giá tôi còn giữ được đến giờ đấy ông ạ.

Sự trân quí kỷ niệm xưa của bác Khoa lây lan đến thế hệ con cháu chúng tôi, hẳn nhiên là cellphone dơ lên chụp lưu lại ngay những tấm hình cách nay gần nửa thế kỷ. Con cháu chúng tôi thu giữ lại được phần nào kỷ niệm của hai bố Khoa và bố Sỹ.

Bác Khoa thỏa thuê vì những gì muốn nói với bạn đã nói. Bây giờ hai con bầy thức ăn ra để hai bố ăn. Cụ Sỹ có hộp thức ăn riêng do con gái mang theo. Cụ Khoa vẫn ăn uống bình thường và ăn rất ngon miệng. Hai con nhìn hai bố ăn mà mát lòng mát ruột. Bố Sỹ nay 100 tuổi sẽ thêm vài năm nữa vui cùng bạn và con cháu. Bác Khoa cũng vậy, với tinh thần phấn chấn vẫn còn muốn giúp đời và giúp người thì bác cùng theo chân bạn Sỹ nhé. Kết thúc buổi picnic ngoài trời là trò chơi “bạn đẩy xe cho bạn” đi chơi vòng quanh hành lang nhà cộng đồng. Cụ Sỹ ngồi cụ Khoa đẩy, dẫu rằng cụ Sỹ vẫn đi ngon lành chẳng cần walker gì cả. Trò chơi thật vui, cụ Khoa tán thưởng: “Đẩy ông Sỹ thế này bác thấy mình khỏe và càng chắc rằng sức khỏe mình tốt thật!”

Riêng tôi nhớ thuở xưa trước 1975, khi miền Nam Việt Nam còn trong thời an bình, nhà giáo và nhà văn là hai “nhà” thường khắn khít với nhau. Có khi lại còn “hóa thân” vào với nhau, làm nghề giáo mà lại còn đeo mang nghiệp văn, hay ngược lại!

Lê Xuân Khoa và Doãn Quốc Sỹ quen biết nhau trong nghề giáo, đến nay một cụ đạt được con số 100 tuổi và cụ kia cũng được 94 tuổi. Năm di cư vào Nam, cụ Khoa lấy vợ, bác gái là người Bạc Liêu, nên được cụ Sỹ gọi đùa là “Công Nương Bạ Liêu”. Bác Gái thuộc dòng dõi gia thế của tỉnh Bạc Liêu. Thời ấy bác được đi học rất cao so với nhiều phụ nữ khác. Thế thì “Rể Bạc Liêu” phải có gì đặc biệt mới vào được mắt xanh công nương Bạc Liêu chứ? Dạ thưa đó là nét thư sinh đẹp trai và tài giảng bài trên bục. Học sinh và sinh viên cứ thế mà say mê thầy. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cũng đã từng say nghe thầy Lê Xuân Khoa giảng về vua Quang Trung đại phá quân Thanh, tại trường Nguyễn Huệ của cụ Bùi Hữu Đột. Để rồi mãi đến sau này hai người gặp nhau tại Hoa Kỳ mới bộc bạch lòng thán phục lẫn nhau.

Phần cụ Sỹ lại có bà Sỹ là một trong ba “tiểu thơ” của nhà thơ Tú Mỡ. Bà không làm thơ như Bố mà bà có biệt tài viết thư và điều hành quân lính trong bếp. Khi viết thư bà có một lối viết chân, chữ dùng đơn giản, mạch văn trơn tru khiến người đọc thư mềm lòng với tâm tình của bà. Đám con cái phê bình “Mẹ viết thư hay hơn Bố đó nha”. Còn trong chốn nhà bếp thì bà nổi danh làm những thức ăn lạ và ngon để thiết đãi bạn chồng. Cụ Sỹ hãnh diện lắm về tài năng này của “Madame Sỹ”!

Trở lại chuyện cụ Khoa và cụ Sỹ mỗi người đều một vận mệnh và sự cống hiến khác nhau cho đất nước dân tộc Việt. Mà lịch sử Việt Nam có nhiều điểm mốc lắm, hình như nhiều đau thương hơn là huy hoàng hạnh phúc. Cụ Sỹ bên cạnh việc dạy học ở ba trường đại học tại Sài Gòn, Cụ còn viết sách. Do vì viết sách nên Cụ bị đi tù. Sách của Cụ viết cả một chiều dài lịch sử, người dân Việt kháng chiến chống Pháp, bị Việt Minh lừa dối, cuộc di cư năm 1954, miền Nam Việt Nam chống cộng sản, và đến khi bị cộng sản thôn tính, đi tù, toàn dân cùng bị tù, tù nhỏ trong nhà tù chung lớn hơn. Ông Sỹ đã thưởng thức 12 năm rưỡi lao tù cộng sản do vì ông dám kể thật những gì cộng sản làm và phá hoại đất nước. Người dân Việt phải chịu đựng bao nhiêu nhọc nhằn, không riêng gì người miền Nam thua trận mà cả ngay miền Bắc kẻ thắng trận đều khổ, Bắc Trung Nam cùng khổ! 

Cuộc đời cụ Khoa có phần êm ả và tươi vui hơn cụ Sỹ. Năm 1960, ông được học bổng chính phủ Pháp tại đại học Sorbonne, lấy bằng tiến sĩ Triết Học với đề tài “Le Boudhisme Dhyana au Vietnam”. Sau đó về lại Sài Gòn ông đảm trách môn Triết học Upanishad tại ĐH Văn Khoa Sài Gòn, môn Văn Minh Việt Nam tại ĐH Đà Lạt, Minh Đức và Vạn Hạnh. Thời gian cuối cùng ở Việt Nam ông giữ chức vụ Phó Viện Trưởng Đại Học Sài Gòn. Và sau đó ông kịp thời di tản sang Mỹ, 1975, để tiếp tục hoạt động về vấn đề tị nạn trong Trung Tâm Tác Vụ Đông Nam Á (SEARAC), ông đã vận động cho người tị nạn Đông Dương với chính phủ và quốc hội Mỹ, chính phủ Hong Kong và Đông Nam Á, Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc.

Có lẽ ít nhiều, cụ Khoa có vận động cho sự tự do của cụ Sỹ trong thời kỳ đen tối nhất. Mối tình thâm này được thể hiện trong bữa tiệc năm 1982 được kể phần trên.

Nếu không kể thêm chuyện “Con Kỳ Lân Cuối Cùng” là thiếu sót một mắt xích trong chuỗi tình thân giữa hai cụ. Hai năm trước biến cố 1975, cụ Khoa trao cho cụ Sỹ quyển “The Last Unicorn”, bản nguyên tác tiếng Anh và Cụ Sỹ đã dùng văn tài của mình để chuyển ngữ sang tiếng Việt. Có lẽ đây là lần cộng tác sau cùng giữa hai cụ với nhau trước khi lịch sử Việt Nam sang một trang mới. Quả là đúng, cụ Khoa đã chọn đúng người trao một tác phẩm hay để có phiên bản Việt ngữ tuyệt vời. “Đây là một tinh thần thông cảm giữa một Mỹ và một Việt, mà cả hai đều có cùng một lối suy nghĩ thật siêu thoát.” Cụ Khoa đã viết phần giới thiệu như vậy đó cho quyển Con Kỳ Lân Cuối Cùng.

Đôi bạn Lê Xuân Khoa và Doãn Quốc Sỹ có mối tình thâm suốt hơn nửa thế kỷ, từ khi hai cụ còn là thanh niên tràn đầy lý tưởng, đến nay đã lên chức Cụ. Cụ Sỹ có 6 chắt, cụ Khoa cũng có 5 chắt đề huề và tràn đầy phước đức. Người đời còn gọi là “Tứ Đại đồng đường”. Do vì hai cụ được con cái chăm sóc đầy đủ để có vui tinh thần và khỏe thể chất. Điều thật hiếm có với hình ảnh hai Cụ ngồi sát cánh, tay nắm tay và cười vui cùng nhau.

Con và cháu của hai Cụ vui lây niềm vui lớn này và để rồi câu chuyện ngày hôm nay được ghi lại như vầy và vui vầy với Đôi Bạn Già Khoa – Sỹ!

California, ngày 21 tháng 11 – 2023

Doãn Cẩm Liên






***










Nov 8, 2023

DỄ ẸC! Doãn Quốc Hưng

 Lạy sám hối hả? Dễ ẹc! Bé hai tuổi rưỡi cũng làm được. Chỉ cần biết chú tâm quan sát ông già bên cạnh thôi...