Jul 12, 2017

4. NHẠC TRONG VĂN DOÃN QUỐC SỸ



Mối tình của Kha và Miên khác với Thiệu và Yến. Miên là một thiếu nữ thùy mị, trong trắng. Kha là một thanh niên từng trải, đã trải qua một mối tình tan vỡ. Kha yêu Miên dịu dàng, độ lượng như yêu một người em gái. Mẫu đàn ông trong truyện của Doãn Quốc Sỹ luôn luôn độ lượng và cao thượng.
Có hai lần, trong tập I (Ba Sinh Hương Lửa) Doãn Quốc Sỹ đem nhạc vào truyện để làm tăng cái cảm xúc đến tột độ cho độc giả. Nhạc ở đoạn này không là nhạc cổ điển Tây phương, mà là những bài hát đại chúng thôi.
Đoạn thứ nhất, như sau:
“Liệt, một thanh niên rất xấu trai: đầu trọc tếu một cách khôi hài, khuôn mặt dài rất nhiều trứng cá, nước da mai mái hơi ngả sang vàng khè của những người bị sốt rét kinh niên, cặp môi dầy… Thế mà khi Liệt hát, giọng hát Liệt rất trầm, ấm dịu nên đã gợi được hết tình ý buồn thảm của lời ca, hơn nữa Liệt hát với tất cả sự say mê của một nghệ sĩ phụng sự nghệ thuật, vẻ hề của Liệt biến hẳn, không để lại một vết tích nhỏ, dưới ánh điện yếu ớt của toa tầu, khuôn mặt Liệt như co rúm lại trong một niềm thống khổ trang nghiêm. Bài hát Liệt trình bày là “Nguyễn Thái Học” một bài ca buồn thảm, do một nhạc sĩ vô danh sáng tác.
Liệt còn hát bài này, một lần nữa, vào nửa đêm thanh vắng, sau khi trong ngày đã chứng kiến vụ bức tử của một chiến sĩ quốc gia.
Lần thứ hai, Doãn Quốc Sỹ dùng một bài hát để gợi kỷ niệm thương đau của đôi bạn nhỏ Đồng và Uy, nạn nhân của một sự lừa bịp tàn khốc. Khi Đồng tự sát mở màn cho cả một chiến dịch tự sát sau này, Uy ngồi nhớ bạn. Đoạn ấy như sau:
“Uy ngồi dưới bàn viết với ánh đèn leo lét. Có tiếng hát từ xa vọng lại.
Bà… Bà mẹ ơi!
Bà đến cho đời thêm tươi…
Một kỷ niệm âm thanh đã gợi lên những kỷ niệm của hình bóng. Uy khẽ nói: “bài hát của Đồng” rồi gục mặt xuống bàn.
Đồng không bao giờ thuộc hết một bài hát nào. Trong những buổi sinh hoạt, mỗi khi đồng ca, Uy thường mỉm cười nhìn miệng Đồng “a…a”. Nhưng đặc biệt bài “Mẹ Nuôi Chiến Sĩ” thì Đồng thuộc cả điệu lẫn lời từ đầu đến cuối và hát nghe thật nhẹ nhàng, thanh thoát, lột hết được sự rung động thành kính. Uy hiểu rằng âm điệu và ý nghĩa bài đó gợi lên mối tình mẫu tử xa xôi, chính là những điều mà Đồng hằng khao khát trong tiềm thức.
Tác động mãnh liệt của nhạc đối với những kỷ niệm của Uy (hay chính là đối với tác giả) đem đến sự xúc cảm đến nghẹn ngào cho độc giả.


12 tháng 7, 1988

QUỲNH GIAO
(còn tiếp)

5. NHẠC TRONG VĂN DOÃN QUỐC SỸ


Cuốn “Sầu Mây” Doãn Quốc Sỹ viết vào năm 1970 sau khi đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ, lần này nói đến nhạc và Thiền. Cũng năm 1970, giữa những tao loạn cùng cực của chiến tranh, tư tưởng về đạo Thiền đã được phổ biến ở Saigon, Doãn Quốc Sỹ đã viết “Vào Thiền” một tùy bút có thể không được phổ biến bằng những tác phẩm khác mà ông đã viết trước và sau đó, nhưng con người thánh thiện và đầy dũng cảm này đã thực sự vào Thiền.
“Sầu Mây” là một tác phẩm viết về đời sống và tâm tư của một thanh niên Việt Nam ở Hoa Kỳ. Trong truyện, Huy, chàng thanh niên Việt, cảm mến và yêu Crys, một thiếu nữ Mỹ học nhạc, yêu nhạc và yêu dân tộc Việt Nam. Ở tác phẩm này, Doãn Quốc Sỹ không chỉ nhắc tên bài nhạc, ông còn phân tích tỉ mỉ, cảm tưởng của mình nữa.
Đây là một đoạn phân tích:
“Beethoven chỉ cho mình nghe thòm thèm rồi lập tức để nó chạy trốn vào đám âm thanh tít mù. Đôi khi mình có bắt gặp chúng thấp thoáng ẩn hiện ở một vài bè khác như một bóng ma đương tự dẫn lối mà đi để hoàn tất lấy giai điệu khao khát trong tâm tưởng. Thực khác hẳn với Handel chẳng hạn, giai điệu tròn trĩnh như những luống cầy có đầu có cuối vuông vắn, hay với Mozart giai điệu vừa tròn trĩnh lại vừa uyển chuyển như én liệng ngày xuân.”
Và sau đây là Nhạc và Thiền, trong một đoạn Crys viết cho Huy:
“Anh biết không, tuần vừa rồi em có phần trình diễn đọc tấu trên sân khấu. Thưởng thức nghệ thuật là vươn lên với Thượng Đế, sáng tác nghệ thuật là đồng hóa với Thượng Đế.”
Huy cũng có lần nói:
“Tôi vẫn yêu tiếng Cello, thoạt yêu vĩ cầm, nhưng rồi nhiều khi buồn nản về cõi thế, về tình hình đất nước, tôi nghiêng dần thương mến về Cello. Tiếng đàn trầm đó nhiều khi như thủ thỉ ngỏ lời tâm tình, nhiều khi như dìu tư tưởng tôi đi vào chiều sâu của tâm tư.


12 tháng 7, 1988

QUỲNH GIAO
(còn tiếp)

6. NHẠC TRONG VĂN DOÃN QUỐC SỸ


Gần đây nhất, tôi đọc “Đi” của Hồ Khanh, mà theo giới hiểu biết là biệt hiệu khác của ông. Vẫn với giọng văn đôn hậu, nhân ái, và đôi lúc dí dỏm, cả câu truyện cho thấy tình yêu thương vợ con đằm thắm của ông. Tôi đặc biệt yêu nhân vật Bích ở trong truyện, cháu gái của ông, được mô tả là một thiếu nữ hồn nhiên, “gà tồ”, và có ngón đàn rất hứa hẹn. Bích “tồ” đã đàn được Sonate pathétique của Beethoven rất vững, khi bác trai xoa đầu mà rằng “Bác nghe đĩa Arthur Rubinstein chơi bản này cũng chẳng hơn cháu là bao!”
Tôi yêu Bích tồ vì tôi liên tưởng đến một số học trò nhỏ của tôi. Những đứa trẻ càng hồn nhiên, thơ ngây và thẳng thắn thì càng có khiếu về nhạc. Dường như bản chất thơ ngây đó khiến trực giác và sự cảm nhận bén nhậy hơn. Từ sự tự nhiên, hồn hậu, ý nhạc được diễn tả chân thật mà trở nên có hồn. Trẻ khôn ngoan quá, đôi khi làm “lố” điều cần thiết, sự truyền đạt (interpretation) trở nên giả tạo.


12 tháng 7, 1988

QUỲNH GIAO
(còn tiếp)

7. NHẠC TRONG VĂN DOÃN QUỐC SỸ


Tập truyện ngắn “Gìn Vàng Giữ Ngọc” của Doãn Quốc Sỹ không viết về nhạc, nhưng tôi rất thích thú vì những tư tưởng nhân ái về cuộc đời ở ông. Nhất là hai truyện ngắn “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” và “Gìn Vàng Giữ Ngọc”. Tôi không quên câu nói:
“Ở thế giới thực dân tư bản, người ta tung vật chất để giam lỏng linh hồn, ở thế giới thực dân Cộng Sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành. Thấy tôi hằng kiềm chế được nóng giận và nhất là vẫn mỉm cười, khi ứa nước mặt, các bạn bè thân thương khen tôi có thái độ hồn nhiên của Trang Chu. Các bạn có ngờ chăng thái độ hồn nhiên đó là kết quả của biết bao cảnh cơ hàn mà tôi đã trải qua”.
Và tư tưởng hiền lành, nhân ái đó được bộc lộ trong “Gìn Vàng Giữ Ngọc”.
“Nếu quả sống với nhau là một nghệ thuật, hãy gìn vàng giữ ngọc cho nhau, vàng ngọc của tâm hồn. Hãy dừng lại nơi thiện chí chân thành của nhau, hãy giúp nhau thổi thêm ánh sáng vào những lúc hồn chợt lóe bình minh, để cùng chia vui giây phút thiên thần.”


12 tháng 7, 1988

QUỲNH GIAO
(còn tiếp)

8. NHẠC TRONG VĂN DOÃN QUỐC SỸ


Điều làm tôi thắc mắc, thật tình thắc mắc là con người đôn hậu Doãn Quốc Sỹ, với ngòi bút chân phương và hiền lành đó, làm sao phản ảnh được cái tiêu cực một cách trọn vẹn – phải viết là cái xấu xa tột cùng – của chế độ Cộng Sản, đến nỗi bị giam hai lần, và lần thứ nhì bị tù bốn năm rồi mới được đem ra xử, tuyên án rõ rệt tù chín năm? Tôi thiển nghĩ, rất đơn giản, là Doãn Quốc Sỹ có ghét ai, cố tình bôi đen nói ác cho ai thì cũng khó thuyết phục được người đọc. Văn ông trong sáng quá, ý tưởng của ông thanh cao và lương thiện quá. Ngòi bút của ông thực sự không có cái đanh ác, tai quái, cái phân tích tỉ mỉ để vạch ra những xấu xa đê tiện của xã hội ông đang sống đến độ “hiện thực” theo kiểu xã hội chủ nghĩa.
Sự thánh thiện ở ông giữa những so đo tính toán, những độc ác nham hiểm của chế độ là một sự lạc lõng. Vì chính sự thanh cao, chừng mực, vì những điều thánh thiện ông viết ra, vì những ý tưởng bình dị, đôn hậu đó mới làm nổi bật cái quay quắt tàn khốc của đời sống con người, khi bị đẩy vào đời sống của loài thú.
Mấy năm về trước, tôi có được nghe câu chuyện kể lại từ một người bạn. Câu chuyện được nhà văn Nguyễn Hoạt ghi nhận về Doãn Quốc Sỹ ở trong tù, lần thứ nhất. Họ bắt ông khai lại lý lịch, vì trong tờ khai đầu tiên, Doãn Quốc Sỹ viết về nghề nghiệp của ông: “Nhà văn chống Cộng” trả lời câu hạch hỏi của Việt Cộng, ông nói: “Đã là nhà văn, muốn viết sự thật, thì phải là nhà văn chống Cộng, chứ làm sao khác.” Họ còng tay ông giải lên Công an, hỏi ông câu “Ai thắng ai.” Ông trả lời, có khác gì một đoạn văn trong liệt truyện của Sử Ký Tư Mã Thiên:
-               “Chúng tôi thắng. Chúng tôi chống các anh trên bình diện tư tưởng. Các anh phải năm người có vũ khí, còng tay tôi rồi mới dám hỏi câu này. Các anh thua rồi!”
­­­Con người thánh thiện đó, trước bạo lực, đã có những trả lời đơn giản mà ghê khiếp như vậy. Tôi không thể không nghĩ đến cái DŨNG của bậc đại trí.


12 tháng 7, 1988

QUỲNH GIAO
(còn tiếp)

9. NHẠC TRONG VĂN DOÃN QUỐC SỸ


Viết về Doãn Quốc Sỹ, về “nhạc tính” trong các tác phẩm của ông, mà không nói đến thực tại ông đã và còn đang trải qua, tôi vẫn thấy mình thiếu sót. Sự trong sáng của tâm hồn Doãn Quốc Sỹ giải thích sự mẫn cảm đầy hiểu biết của ông đối với bộ môn nghệ thuật song hành với bộ môn văn chương. Sự trong sáng đó đến từ một tâm hồn thánh thiện, và một nghị lực dũng cảm phi thường. Ở Doãn Quốc Sỹ, điều này giải thích điều kia. Ở Doãn Quốc Sỹ, văn tài, đạo đức và sự thuần khiết của cái Tâm vững chãi… tất cả đều là một, không thể tách rời, không hề xa cách.
Tôi thường nghĩ là mỗi bộ môn nghệ thuật, khi đi tới tột đỉnh của nó, đều gần gũi với Thiền.
Nghệ thuật viết và sống của Doãn Quốc Sỹ đã đi tới đỉnh cao của nó. Ông có viết về Nhạc và Thiền, điều đó thật thích hợp với lối sống của ông, một lối sống rất Thiền, rất bình thản trước mọi chông gai, thử thách.
Tôi không hiểu là rồi đây, người Cộng Sản sẽ còn làm gì để xử trí một trường hợp đơn giản mà lại khó hiểu đến như vậy. Họ sẽ làm gì khi tiếng xiềng xích loảng xoảng ở chung quanh vẫn không át được tiếng nhạc âm vang từ trong tâm ông?
Doãn Quốc Sỹ vẫn là người tự do, khi đứng giữa sự độc ác mà vẫn giữ cho tâm mình được thơm lành, giữ cho lòng mình không oán hận, giữ cho tiếng nhạc thiều vang dậy trong tim…
12 tháng 7, 1988

-->
QUỲNH GIAO