Apr 9, 2016

THAM LUẬN - Thích Phước Tịnh




THAM LUẬN

Chủ đề: Công Trình Giáo Dục Của Phật Giáo Tại Mỹ

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


Kính bạch hiện tiền chư Tôn Đức Tăng Ni.
Kính thưa quý Đồng hương, Phật tử.

Chúng con rất cảm ơn chư Tôn Đức Tăng Ni đã cho phép chúng con đóng góp một vài suy nghĩ rất hạn hẹp của mình đến công trình giáo dục của đạo Phật tại Mỹ.


I.    Bản chất công trình giáo dục của đạo Phật.

Chúng ta đều biết, giáo dục là công trình quan trọng hàng đầu cho mọi nền phát triển của xã hội văn minh. Giáo dục xây dựng tính nhân văn cho một quốc gia và làm thành nhân cách sống con người cao quý, thiện lành, đẹp đẽ và hạnh phúc cho từng cá nhân trên hành tinh này. Đạo phật đã có một bề dầy 26 thế kỷ của công trình giáo dục, tạo thành mảng văn hóa lớn cống hiến cho xã hội loài người từ quá khứ đến hiện tại. Nền tảng giáo dục của đạo Phật xưa cũng rất xưa, nhưng mới cũng rất mới do đặc tính khai phóng, nhân văn, nâng cao trí tuệ, lòng thương yêu và tự do con người lên đến tuyệt đỉnh; trên nền tảng nhân bản - lấy con người làm bản vị - mà không hề đặt thân phận con người vào bàn tay của đấng Thần linh nào từ bên trên áp đặt. Thế nên, xã hội càng văn minh, nhu cầu hiểu biết và hạnh phúc con người càng cao, thì càng nhận ra đạo Phật mở cho họ nhiều cánh cửa hiểu biết, nhiều phương pháp thực tập đầy trí tuệ để thành tựu phẩm chất đời sống tự thân và cộng đồng. Đây là sắc thái đặc thù chưa tìm thấy nơi dòng chảy tâm linh nào ngoài đạo Phật.

Trong quá khứ, từ nguồn chảy ban đầu trên đất Ấn, đức Thế Tôn đã không chấp nhận một tôn giáo cuồng tín nơi vị giáo chủ, một nền giáo dục đạo Phật nhồi sọ niềm tin và phương pháp tu tập ỷ lại thần linh, phó thác đời mình vào tay người khác. Những phương pháp van xin, cầu khấn, trốn chạy bốn chân lý hiện thực giữa đời sống chưa từng có trong lời dạy của Ngài. Tuy nhiên, khi dòng chảy xa nguồn, đi qua các vùng văn hóa khác biệt, các bậc Thánh Tăng truyền bá chánh pháp đã ít nhiều mở ra những cánh cửa phương tiện để pháp hành của Phật đến được với người bản địa. Thế nên, có những hình thái sinh hoạt của đạo Phật hiện tại không hề là đạo Phật nguyên chất ban đầu. Sự thuận lợi của công trình phổ biến Pháp tuy có giúp người tiếp nhận Giáo Pháp rất dễ, nhưng đồng cũng thời tạo thành những nhánh chùm gởi, bám chặt vào thân cây hút cạn nhựa sống của đạo Phật nguyên sơ, đã làm cho bao người bỡ ngỡ khi nhìn vào hình thức sinh hoạt của Phật giáo hiện tại. Thiệt thòi hơn nữa, người tu chúng ta lại nhận lầm những nhánh chùm gởi chính là đạo Phật. Đây là một sai lầm to lớn không riêng gì đạo Phật Việt Nam mà chung cho người Phật tử Nam Bắc truyền Phật giáo.

Đất nước chúng ta đã tiếp nhận đạo Phật từ Ấn Độ đi ngang qua các vùng văn minh Trung Á, Hoa Hạ, Tây Tạng nhuộm đầy bản sắc và tập tục của các địa phương đạo Phật từng phát triển. Cộng thêm gần 2,000 năm gắn liền với niềm tin đa thần của dân tộc Việt, nên trở thành một gia tài cồng kềnh trên vai Tăng, Ni và Phật tử khó bề gỡ xuống. Càng khó hơn nữa là thay đổi não trạng ta đang tu học theo Phật giáo Đại thừa. Do vậy, để có thể thay đổi chính mình, đổi thay sinh hoạt đạo Phật, để sống còn và hành Đạo được trên đất Mỹ, không thể có con đường nào khác ngoài con đường giáo dục.


II.    Hiện tình đạo Phật tại Hoa Kỳ.

Chúng ta – Tăng, Ni và Phật tử Việt – đã có mặt nơi đây khi lịch sử đất nước sang trang sau 1975 và nhiều đợt người đến, sinh ra và trưởng thành cho đến hiện tại. Nhìn chung, chúng ta đã làm được bao điều kỳ vĩ. Thế hệ thứ hai, thứ ba người Việt rất thành công trên miền đất Hứa. Các bậc Thầy có mặt từ trước đã xây dựng được cơ sở tự viện, duy trì được sinh hoạt tôn giáo, làm chỗ tựa tinh thần cho cộng đồng Phật tử Việt Nam. Đây là niềm tự hào rất lớn. Nhưng nhìn thật kỹ, có nhiều điều quan trọng vẫn còn mở ngõ đợi chờ. Chúng ta còn chưa làm cho đạo Phật có sức sống, đáp ứng nhu cầu tu tập cho người trẻ, nuôi dưỡng được các thế hệ tương lai trên đất Mỹ. Càng chưa mở được cánh cửa tu tập, để người bản địa đến với chúng ta. Dường như từ hình thức mái chùa đến nghi lễ tụng niệm, mũ miện nghi trang, cách thức truyền đạt Giáo pháp và văn hoá ứng xử của chúng ta đậm nét một đạo Phật hình thức rườm rà, già cỗi, cách biệt đời sống thực tiễn, chỉ có thể đáp ứng cho những người gìa Việt Nam sẵn tín tâm đã quy y tự ngày xưa. Có lẽ, tệ nạn này sẽ chảy dài mãi cho đến bao giờ chúng ta dám nhận diện những hạn chế của mình và quyết tâm thay đổi.

(còn tiếp) 

THAM LUẬN - Thích Phước Tịnh




III.      Nhu cầu giáo dục của Phật giáo Việt Nam tại Mỹ.

Một nhà xã hội học Hoa Kỳ đã bảo: “Cho dù bạn đánh sập nền kinh tế Mỹ đến tận đáy cũng không thể kéo sự phát triển khoa học và nền dân chủ nơi đây xuống thấp hơn, khi những trường đại học Mỹ vẫn sừng sững hiên ngang và luôn tỏa sáng”. Chắc hẳn rằng: đây không phải là lời tuyên bố vô căn cứ. Nước Mỹ đã dẫn dắt thế giới về mọi mặt của đời sống văn minh, do vì hệ thống giáo dục của họ từ thấp lên cao luôn sống động, mới mẻ và đi tới. Chúng ta chưa từng nghe từ ngữ “đổi mới chương trình giáo dục” của chính phủ Hoa Kỳ chỉ thị từ thời lập quốc đến hiện tại. Bởi lẽ bản chất nền giáo dục Mỹ luôn mới. Tự thân nó luôn đổi thay, thích ứng và dẫn dắt xã hội đi lên. Từ đấy, nhìn lại một dòng chảy tuệ giác được sinh ra từ đấng Giác Ngộ sống còn đến hôm nay, không chỉ đơn thuần vì đấy là chân lý mà còn do đặc tính hội nhập vào các nền văn minh, nhưng không mất phẩm chất của nội dung trí tuệ từ bi rất tinh túy. Biểu hiện và duy trì được sắc thái này, hẳn nhiên từ công trình khéo thích ứng và nền giáo dục khai phóng của đạo Phật đã luôn sóng vai cùng xã hội phát triển.

Trên nền tảng này, nhìn lại đường đi của đạo Phật Việt Nam nơi đất nước văn minh mà chúng ta hiện sống, sẽ thấy sự khập khiễng đáng thương của một hình thái Phật giáo mà chúng ta đang cố tình xây dựng nơi đất nước Hoa Kỳ. Có thể chúng ta vin vào muôn ngàn lý cớ để tự mãn, để ru ngủ và bằng lòng với sự sống còn của đạo Phật nơi đây - nhất là công trình giáo dục chung chung cho những người con Phật. Nhưng nếu quan sát đủ rộng và suy nghĩ đủ xa, chúng ta sẽ cùng chấp nhận rằng: Nếu cứ hình thức rườm rà và công trình giáo dục nặng nề của một đạo Phật mang đầy nhánh chùm gởi như sinh hoạt Phật giáo Việt Nam hiện tại, chúng ta chẳng những đánh mất mình mà mất luôn các thế hệ tương lai nhất là bội bạc với dòng tuệ giác sinh động của đức Thế Tôn đã hiến tặng cho nhân thế.


IV.     Những đề xuất cho công trình giáo dục.

Cuối cùng, chúng con xin mạo muội đề xuất vài ý kiến cho công trình giáo dục Phật giáo nơi đây:

1.    Nên có sự tham khảo và tiếp nhận ý kiến đủ rộng từ các bậc Thầy về nhiều lĩnh vực giáo dục trong xã hội và Phật giáo để xây dựng chân đế cho công trình giáo dục ngắn hạn và dài hạn của đạo Phật tại Mỹ.

2.    Đặt trọng tâm vào đối tượng thanh thiếu niên, người trung niên trong xã hội. Khai triển những phương pháp thực tập, đáp ứng được nhu cầu đời sống rất thực của con người nơi đây.

3.    Bỏ bớt những hình thức rườm rà lễ mạo, những tập tục không cần thiết, những tín ngưỡng nặng giáo điều và sùng thượng cuồng dại thành phần Tăng lữ. Hãy phục hồi một đạo Phật trong sáng, giản dị, sống động, hiện thực và hữu ích hơn từ nền tảng của giáo lý Nguyên thủy. Xây dựng lại nếp sống thanh đạm, trí tuệ và đạo hạnh của người xuất gia; sống hòa ái yêu thương, phụng sự tha nhân nhưng đầy hạnh phúc hiền minh qua pháp hành cho người cư sĩ giữa cuộc sống trần tục.

4.    Tùy vào khả năng và vai trò của mỗi người con Phật có thể làm được – và ai cũng có thể làm được, là hãy thay đổi tự thân bằng công trình tự nuôi dưỡng mình từ pháp học và pháp hành thực sự nghiêm túc. Để có thể đến được với nhau bằng trái tim hòa ái tương kính và cùng hướng về tương lai, cống hiến một chút gì cho thế hệ kế tiếp. Chỉ ngần này thôi chúng ta mới mong đẩy được nền giáo dục Phật giáo tại Mỹ có được một hình hài khang kiện, tươi mới và sống động; thâm nhập vào văn hóa Mỹ để tồn tại và phát triển.

(còn tiếp) 

THAM LUẬN - Thích Phước Tịnh



V.    Kết luận.

Một đời giáo hóa của đức Thế Tôn, điều Ngài làm không mỏi mệt và di chúc cho các thế hệ người con Phật kế thừa là “giáo hóa thông”. Thần thông của đạo Phật không hề đi trên mây hay ẩn thân nơi này, hiện thân nơi nọ, mà thần thông là giáo hóa con người, tự mình chuyển hóa nghĩ suy, nói năng và hành động, để thành tựu an lạc hạnh phúc hiện tiền và chứng nghiệm giải thoát giữa cuộc sống trần thế. Thế nên, công tác giáo dục được nhiều thế hệ Phật tử đặt lên hàng đầu trong công trình hành Đạo. Có thể công trình này phải mất thời gian rất dài và cho phép bao cơ hội tái lập sau những lần lệch hướng. Thế nhưng, chúng ta hãy bắt đầu bằng con đường học thẳng vào Kinh tạng thuần chất nguyên sơ, đủ thông minh nhận ra những phần thêm thắt của các thế hệ Tăng sĩ kế thừa kiết tập. Đưa đạo Phật và người tu Phật trở về nguồn cội của pháp hành thực sự. Hẳn nhiên, khi học và thực tập sâu xa chúng ta sẽ khám phá rằng bản chất của chân lý được đức Thế Tôn khơi mở và hướng chúng ta đến giải thoát, vốn “phi thần linh và phi tôn giáo”. Bao giờ thành tựu được phẩm chất vô ngã này, chúng ta mới rời bỏ được tinh thần cục bộ, tự mãn và chấp chặc vào tông môn pháp phái, cùng nhau đẩy những việc làm chung đi xa hơn, đủ nhẫn lực hơn và chắc chắn sẽ thành công trong công trình giáo dục của đạo Phật trên đất nước Hoa Kỳ.

Cuối cùng, một lần nữa chúng con xin vô cùng biết ơn chư Tôn Đức Tăng Ni và quý đồng hương Phật tử đã lắng nghe con trình bày những suy nghĩ nông cạn của mình.

Xin chân thành tri ân các vị.


Orange County, ngày 09 tháng 04 năm 2016.

Thích Phước Tịnh

Apr 5, 2016

THỎA THUẬN KẾT THÚC



Ngày 31 tháng 12 năm 2014, một thỏa thuận được lập:

Trong ngày cuối năm 2014, một cụ già 91 tuổi bắt tay thỏa thuận với cụ già 92 tuổi:

"Chúng mình sẽ sống khỏe đến 100 tuổi, anh nhé!"

Thế là hai cụ bắt chặt tay nhau.
Hai cụ tạm biệt năm cũ, chuẩn bị năm mới.


PS:



Theo tin từ gia đình, Giáo Sư Nguyễn Tư Mô đã qua đời vào khoảng 3 giờ chiều vào ngày Chủ Nhật 3/4/2016 tại tư gia, thành phố Santa Ana.

Con trai của Giáo Sư Nguyễn Tư Mô là anh Nguyễn Tư Nhân cho biết ngày 3/4/2016 cũng chính là ngày sinh nhật lần thứ 94 của bố anh. Hôm đó, cả gia đình tụ họp đông đủ từ sáng để mừng sinh nhật bố, ông. Đến buổi trưa, Giáo Sư cảm thấy mệt, rồi bị sốc cao. Người nhà gọi cấp cứu đến thì Giáo Sư đã ra đi một cách nhẹ nhàng, thanh thản.

Giáo Sư Nguyễn Tư Mô sinh năm 1922 tại Bắc Ninh. Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào Nam. Ông nguyên là Giáo Sư Phụ Tá Khoa Trưởng Trường Đại Học Nha Y Sài Gòn, đồng thời là một nha sĩ danh tiếng tại Sài Gòn trước 1975.

Sau năm 1975, Giáo Sư cùng gia đình cố gắng vượt biên từ rất sớm, chỉ ba tháng sau ngày mất nước, nhưng không may bị bắt. Ông phải ở tù, vợ và các con đã phải tá túc tại gia đình của giáo sư Doãn Quốc Sỹ trong nhiều năm, trước khi lần lượt vượt biên. Sau khi được thả tự do, giáo sư vượt biên lần thứ 2 thành công, sang định cư tại Hoa Kỳ vào năm 1982.

Sang đến Quận Cam, Nam Cali, Giáo Sư là một trong những  nhà hoạt động tích cực nhất trong nhiều lĩnh vực của cộng đồng chúng ta. Ông là thành viên sáng lập Ủy Ban Vận Động Thành Lập Và Phát Triển Khu Vực Little Saigon, là một trong những người đã vận động để chính quyền California chính thức công nhận vùng Little Saigon Quận Cam, niềm hãnh diện của tất cả Người Việt Tự Do tại hải ngoại.

Giáo Sư từng là cố vấn, thành viên của rất nhiều tổ chức, hội đoàn khác nhau trong cộng đồng. Ông luôn có mặt trong các sinh hoạt cộng đồng, đấu tranh, từ những cuộc biểu tình chống các phái đoàn CSVN sang Hoa Kỳ, vận động nhân quyền, cho đến các sinh hoạt văn hóa như Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương, phát giải Khuyến Học…

Những năm gần đây, dù Giáo Sư tuổi cao và sức khỏe đã yếu, cộng đồng vẫn quí mến mời Giáo Sư đi dự những sự kiện văn hóa, chính trị lớn.

Được biết giáo sư là người bạn cố tri, tâm giao của Giáo Sư Doãn Quốc Sỹ. Hai gia đình khi di cư vào Nam cùng ở khu đại học xá Minh Mạng, cùng chia sẻ khó khăn cho nhau những ngày cả hai vị đều bị tù đầy trong lao tù cộng sản. Khi sang đến Mỹ, những ngày cuối đời cùng ở Little Saigon Quận Cam, hai vị vẫn thường xuyên thăm hỏi nhau, và còn có lời hẹn ước “cùng nhau sống đến trăm tuổi” nhân dịp sinh nhật năm ngoái của Giáo Sư Nguyễn Tư Mô.

Tang lễ của Giáo Sư Nguyễn Tư Mô sẽ được tổ chức tại nhà quàn Peek Family vùng Little Saigon trong 3 ngày, từ ngày Thứ Sáu 8/4/2016 đến Chủ Nhật 10/4/2016. Cộng đồng Người Việt Tự Do hải ngoại xin thành kính tiễn đưa vị nhân sĩ đáng kính về với Cõi Phật.

Đoàn Hưng / SBTN

Apr 4, 2016

3. TÁM VỊ BỒ TÁT - HƯNG GÀN - Ngô Thùy



HƯNG GÀN

Đây là một chương viết bắt tôi phải dừng lại để suy nghĩ.  Như trên tôi đã nói: “Tôi bước chân vào thế giới ấy một cách tự nhiên và đơn giản”.  Bây giờ suy nghĩ lại, tôi thấy đó là một nhận xét hời hợt.  Sự niềm nở ân cần dành cho chúng tôi trong lần gặp đầu tiên chỉ có giá trị như một thói quen hiếu khách đầy lịch sự.  Nó sẽ chẳng tỏ rõ được con người thật của mình.  Điều bất lợi trớ trêu (mà cũng thật tức cười) của chúng tôi, là chúng tôi đã bước vào nhà với cái nhãn hiệu “bạn của Thái”.  Thật tội nghiệp cho chàng Thái đẹp trai và (có vẻ) mủ mỉ hiền lành ấy.  Bởi vì trước chúng tôi và trước khi bác tôi trở về, hầu như tất cả bạn bè của Thái đều được gia đình đóng cho cái dấu to tổ bố trước trán: “Ăn-Chơi-Nhảm nhí”.  Của đáng tội, con dấu đó đã được chứng thực bởi chị Thanh, vị quan tòa nghiêm khắc nhất nhà.  Những buổi họp mặt lấy cớ là sinh nhật người bạn này, cô bạn nọ của Thái, bao giờ cũng kết thúc bằng một màn dance lả lướt kéo dài quá nửa đêm.  Và cuối cùng nó đã kết thúc thật.  Vào một đêm tương tư, giữa lúc các bậc trai tài gái sắc đang dìu nhau trong phòng, thì từ trên lầu đi xuống “một nữ hung thần đằng đằng sát khí, uy phong lẫm liệt, quát to một tiếng, tức thì cả bọn yêu tinh liền biếnt mất (hoặc chạy mất không biết nữa), và biến mất luôn cho tới nay, nếu có trở lại cũng dưới dạng khác dễ coi hơn.  Đó là giai thoại có thật về chị Thanh ra tay trừ tà.

Thật tai hại cho tôi vì mãi sau này tôi mới biết được những chuyện đó.  Mà cũng thật may, vì không biết những định kiến ấy nên tôi mới đã xuất hiện thật tự tin và chân thực ở nhà bác tôi.  Tôi chỉ hơi lấy làm ngộ nghĩnh cho cái thái độ ban đầu của Hưng, mà sau này chúng gọi là Hưng gàn.  À thì ra anh chàng này theo thuyết Chính Danh.  Cái máu đạo đức (dù giả?!) trong Hưng nó đòi hỏi Hưng phải xác định được kẻ đứng trước mình như thế nào rồi mới cho phép Hưng tỏ ra thân thiện với kẻ đó.  Và chúng tôi đã can đảm chịu đựng sự thử thách đó một cách dễ chịu, vì chỉ có “năm mươi giây” thôi là Hưng và chúng tôi đã hoàn toàn thông cảm, tới nỗi bây giờ Hưng đã trở thành tri kỷ của nhà tôi rồi.  Và cái thuyết Chính Danh ấy (xin lỗi Đức Khổng Trọng Phụ) về sau này cũng đã bị “nụ cười hàm tiếu” đánh bạt đi mất tiêu rồi.  Chúng ta sẽ trở lại với câu nói khó hiểu này ở đoạn nói về giai đoạn “Thiền đạo tu tập nhập môn” của Hưng. Còn bây giờ tôi muốn được giới thiệu với bạn đôi chút về Hưng gàn của chúng tôi.

Đến nhà bác tôi, nếu may mắn, bạn sẽ được gặp ở cái bàn kê sát cửa sổ, một anh chàng tóc vừa xoăn vừa rối, mắt to, mặt nhạn, môi cong lên như cây cung sắp bật, đang thừ ra trước chồng sách nói về những hữu thể đáng yêu như gang thép nickel sắt đồng chì thiếc kẽm vàng bạc bạch kim vân vân … Chắc bạn cho rằng anh chàng kỹ sư luyện kim trẻ măng này đang nát óc tìm con đường đi đến một hợp kim mới toanh chăng?  Không đâu.  Anh chàng này đang bận tâm đến quá trình loại bỏ quặng bẩn.  Mà nan giải thật, biết lấy chất xúc tác nào, đun ở độ nóng nào … để mà tách rời được chất cặn bã trong óc của loài tôm thời đại đây?  Có gì bảo đảm rằng sau khi lấy cặn bẩn ra thì trong đầu chúng còn lại được tí óc iếc nào để mà suy nghĩ không – khó thật. 

Đã bảo rằng không rồi kia mà, từ cái giai thoại dân gian về sự tích con tôm có bộ tiêu hóa ở trên đầu xa lắc xa lơ tận thưở nào … Vì vậy tôi cho rằng Hưng đã hoài công hy vọng một sự cải hóa hòa bình kiểu đó.  Nhưng nói về hoài bão “cải hóa loài tôm” nghe nó có vẻ như Hưng đang định chuyển sang ngành sinh vật học hay Hải dương học quá nhỉ?  Thế mà thực ra anh chàng đang mơ ước đi vào “Nhân bản học” đó các bạn à, nếu thực sự trên đời này có được điều kiện ắt có và đủ để người ta theo đuổi khoa học tinh tế và vi diệu ấy. 888

Cái nghề luyện kim của Hưng gàn thoạt nghĩ thì có vẻ chẳng ăn nhập gì tới những nốt nhạc tuyệt diệu mà Hưng đã, đang và sẽ bỏ ra cả đời để tìm kiếm và hội ngộ.  Nhưng khi chúng ta chịu khó nhìn kỹ tinh thần và phương châm của Hưng trong cả hai lãnh vực: nghề nghiệp và nghệ thuật, thì sẽ rút ra được cái đẹp “mẫu số chung”.  Đó là sự gạn đục khơi trong, sự chắt lọc tinh tế, sự nâng niu kết quả cuối cùng như một micro vàng tìm thấy trong một kilogramme quặng bẩn.  Con người sẽ tuyệt vời là hạnh phúc khi dùng cái rìu con bổ mãi một trái núi, điến khi nó thành một trái đồi, một tảng đá, rồi sau chót là ánh sáng mong manh của một viện ngọc quý.  Đâu có phải hắn sung sướng vì được sơ hữu một vật báu.  Đem bán viện ngọc đi đã chắc gì đền bù lại được số cơm gạo hắn đã ăn suốt cả đời để lấy sức mà đi bửa cả trái núi đồ sộ kia.  Cái mà hắn đã có được là vô giá: đó là sự thành đạt của con đường trác luyện.  Con người với tất cả cái hỗn hợp vật chất cấu thành của nó, xin lỗi vô cùng tất cả đồng loại, kể cả chính tôi, thật sự dơ bẩn chẳng thua gì một đống rác.  Một vị tu sĩ đồng thời là một nhà khoa học đã phân tích đại khái như sau: Giá trị thân xác của một con người tính ra không được đến vài đô la.  Số nước trong người hắn không đủ để vò sạch một chiếc khăn.  Số sắt trong người hắn đúc lại được độ hai ngón tay. Tro thiêu từ xác chết của hắn chẳng đủ bón một gốc cây.  Còn nói chi tới những chất cặn bã trong hắn!  Có lẽ chúng còn hôi thối hơn cả một bãi rác.  Nhưng nếu chúng ta chỉ dừng lại ở cái bảng phân tích mang đầy tính chất duy chật bán khai ấy, thì e rằng tất cả chúng ta đều sẽ nhìn nhau khinh miệt, đồng thời tự ghê tởm mình.  Con người tồn tại và ngự trị giữa muôn loài là nở ở một giá trị khác: Tự ý thức cái giá trị vật chất “Năm mươi xu” của mình và mải miết đi tìm giữa cái nhục thân đen tối ấy ánh sáng long lanh của một viện ngọc bích nào đó đang tiềm ẩn.  Cuộc hành trình sẽ đắng cay, nghiệt ngã … nhưng chắc chắn không cô độc, nếu thự sự đi vào một khung cửa hẹp (Porte étroit - A. Gide.  Trên tinh thần Thiên Chúa Giáo, con người công chính thường chọn đi vào khung cửa hẹp, chọn sự hy sinh đau khổ vì đồng loại). Con đường gai góc mở ra từ khung cửa hẹp ấy sẽ mài giũa giúp ta những chỗ thừa mà con người không đủ can đảm đục bỏ lấy.  Cửa đã hẹp, đường đến đích lại càng hẹp, nhưng vẫn cảm biết thật gần đâu đây hơi thở của người bạn đồng hành đang sưởi ấm, đang an ử.  Người đồng hành dó chính là Ngài, Thượng Đế!  Ngài đã chẳng ném con mình đơn độc vào nơi tăm tối bơ vơ, mà chính ngài đang song hành với ta, đưa ta đi đến đích của con đường rất hẹp, hẹp đến độ cuối cùng nó đã nuốt chửng luôn lấy cả nhục thân ê chề của chúng ta.  Nhưng bù lại, nó đã nhả vào không gian mênh mông một vì sao long lanh; trong cõi vĩnh hằng đó, tia sáng vì sao mời gọi chúng ta, những kẻ còn chưa kịp lên đường. 

(Còn tiếp) 

3. TÁM VỊ BỒ TÁT - HƯNG GÀN - Ngô Thùy




Tôi đã nói vòng vo cái gì không hiểu, chỉ để cố miêu tả cái gắng gỏi miệt mài trong cá tính của Hưng.  Hưng được ban cho một thiên khiếu về âm nhạc.  Nhưng không tự bằng lòng chỉ ở cái gọi là “thiên khiếu”, Hưng luôn luôn đi lên, tìm những thế giới còn đóng cửa ở phía trước.  Không phải đó chỉ là những cánh cửa khép hờ.  Nhưng bằng nhiều cách Hưng đã mở cho mình các thế giới ấy.  Càng đi sâu vào thế giới âm nhạc phức tạp huyền ảo, Hưng càng viết ra được những nốt nhạc giản dị hơn.  Điều này tất nhiên không có gì nghịch lý.  Bởi vì có ai dám bảo những bức danh mặc đời Đường chỉ gồm mấy nét chấm phá là thô thiển?  Hai bản nhạc gần đây nhất của Hưng, viết trong hai năm nay, đều có vẻ đơn giản và mang một vể buồn sáng láng.  Tại sao buồn mà sáng láng?  Tôi không giải thích được.  George Sand đã từng làm F. Chopin nổi sùng lên khi cố miêu tả những nét nhạc của ông ta.  Tôi không thích làm Hưng gàn nổi sùng như vậy.  Tôi chỉ muốn nói lên những cảm xúc riêng khi nghe những dòng nhạc của Hưng.  Đó là những nỗi buồn làm cho con người ta cảm thấy yêu đời hơn, khi người viết được bộc bạch và người nghe được chia xẻ nó.  Mâu thuẫn một cách kỳ quái:  Nhưng có gì đâu.  Nỗi buồn được gửi gấm vào bản nhạc một cách cẩn trọng.  Hưng đã viết mỗi bài nhạc mất cả năm trời, và khi khai sinh cho nó đã hết sức sung sướng tìm thấy sự đồng điệu ở những người bạn thân thiết nhất của mình.  Mỗi một nốt nhạc đơn giản xuất hiện trên dòng nhạc của Hưng, chính lại là kẻ sống sót cuối cùng sau khi biết bao nhiêu nốt nhạc khác ít đơn giản hơn đã bị xóa bỏ đi.  Giản dị, nhưng thể hiện tất cả. Có vẻ lại mâu thuẫn nữa!  Nhưng tôi có phải giải thích rằng, đặt đúng chỗ của nó, một nốt nhạc đơn giản sẽ trở nên một âm thanh khó tả.  Nó sẽ đi một mạch vào trái tim, tự định nghĩa một cách đầy đủ bằng chính cam xúc của người nghe. Nói như vậy cũng như là chưa nói gì cả.  Ngôn ngữ bất lực trong việc đưa dẫn kẻ khác đến cùng một tác phẩm mà mình đang yêu thích và chiêm nghiệm.  Nếu đó là một người đồng điệu, chỉ cần im lặng đưa họ đến nghe bản nhạc của Hưng là đầy đủ hơn mọi lời giới thiệu, dẫn dắt lắm rồi.

Hưng có lần nó với tôi: “Em viết nhạc khó hơn viết văn.  Bởi vì viết nhạc là phải nghĩ tới người sẽ hát nó lên và phải làm sao cho thích hợp với cả người đó nữa.  Còn viết văn, em coi đó là cách để tự luyện tập.  Em vẫn tập viết văn rất nhiều, nhưng em không có ý định đưa cho ai đọc, vì đó chỉ là bài tập của em thôi.  Nhưng tôi cho rằng không hẳn như vậy.  Viết văn cũng càng phải nghĩ đến người sẽ đọc mình.  Tôi đã từng được đọc những đoản tác giá trị của Hưng.  Và tôi hiểu rõ cách làm việc cẩn trọng ấy.  Với đức nhẫn nại, thận trọng, Hưng vẫn đang mài giũa ngòi bút đến khi nó già dặn và chín chắn hơn rồi mới đem tác phẩm của mình ra chia sẻ cùng người khác.  Điều này là một tương phản rõ rệt giữa tôi và Hưng.  Tôi như dòng thác cuồng lũ, ồ ạt buông mình xuống và chay xiết ra suối, ra sông, ra biển rồi mất tắch trong đại dương bao la, không còn dấu vết nào khác hơn là những vọng âm cuồng nhiệt trong không gian.  Còn Hưng, im lặng như hạt lúa nẩy mầm trong đất, lặng lẽ lớn lên, lặng lẽ đâm bông rồi trĩu hạt.  Một hạt lúa của Hưng đã sinh sôi nẩy nở cho trăm hạt.  Cuột đời được lời lãi quá chừng!

(còn tiếp) 

3. TÁM VỊ BỒ TÁT - HƯNG GÀN - Ngô Thùy



Ở trên, tôi có nhắc đến “nụ cười hàm tiếu”.  Đó là bước Thiền đầu tiên của Hưng.  Từ cái thái độ sống hồn nhiên “yêu ai cứ bảo rằng yêu, ghét ai cứ bảo rằng ghét”, tuy cương trực đó, nhưng đôi khi sai lầm vì những định kiến “bảo hoàng hơn vua” của mình, Hưng đã đi vào con đường Thiền học cần đến sự lắng đọng nhiều hơn.   Con đường ấy mở ra cho bác tôi.  Tôi thường được đọc những mẩu giai thoại nói về việc đốn ngộ của các thiền sư.  Qua đó, muốn đạt đạo, người ta cứ hay bị những ê chề về thân xác, như bị quát vào mặt, bị cầm hèo mà quật, bị chặt đứt ngón tay trỏ, bị đuổi ra khỏi cửa … và thú tật tôi chỉ cảm thấy sợ hãi, cũng như chăng hiểu gì cả khi đọc những ẩn dụ quá ư hiểm hóc của các thiền sư Vô Môn Quan hết.

Đó là nói về Thiền của các Thiền sư đời xưa.  Ngày nay, chính bác tôi đã giúp Hưng đi và Thiền một cách dễ dàng, không cần bất kỳ sự bạo động nào.  Bác chẳng dạy dỗ, thuyết giáo gì cao xa.  Bác chỉ tóm lược vài nguyên tắc  tối cần để nắm được chút khái niệm về Thiền, ngoài ra bác chỉ dùng một phương pháp sư phạm lặng lẽ: Sống!  Ai cũng biết phương pháp này nhưng không phải ai cũng thự hiện được nó.  Với bác tôi, ứng xử thái độ Thiền vào cuộc sống là một việc tự nhiên như gió phải thổi, hoa phải nở, chim phải hót, mây phải trôi.  Về nếp sống của bác tôi, tôi sẽ dành cả một chương về sau này.  Ở đây, bạn hãy biết rằng hơi thở Thiền trong lành, ấm áp đã thổi sinh khí về tới “ngôi nhà ở Xóm Chùa”, từ khi bác trở về từ núi rừng Gia Ray sau lần bị bắt đầu tiên.  Bao nhiêu mây mù đều giạt xa, những suy nghĩ lưỡng lự nửa vời đều đi đến đích, bầu trời trở nên quang quẽ, cuộc đời trở nên dễ thở.  Hai người đầu tiên được nhận ảnh hưởng ấy từ bác tôi là chị Khánh và Hưng gàn.  Như những đóa hoa quỳnh sau khi uống mát no thỏa sương khuya, họ mãn khai, đằm thắm tỏa hương cho đời.  Nhưng không có nghĩa là chị Khánh và Hưng sống Thiền hoàn toàn giống nhau.  Chị Khánh bước vào Thiền nhẹ nhõm như thể được sinh ra để mà sống Thiền vậy.  Còn Hưng, Hưng phải nỗ lực để sống Thiền!  Viết ra câu này tôi lại cảm thấy buồn cười.  Không hiểu tôi mâu thuẫn hay tại tôi phải viết về một anh chàng mâu thuẫn?  Nỗ lực Thiền?  Thật là một cách dùng chữ kỳ quặc.  Sẽ có không ít người muốn quát vào mặt tôi, quật hèo vào vai tôi, chặt đứt ngón tay tôi, đuổi tôi ra khỏi cửa … để dạy cho tôi hiểu thế nào là Thiền.  Cứ làm như Thiền là hì hục vác một tấn gạo không bằng!  Nhưng mà tôi biết sao hơn được với cái anh chàng mâu thuẫn này?  Ở Hưng, sự lắng đọng phải là kết cục của một cuộc xung đột dữ dội giữa những tham vọng và sự thoái bộ (sự thoái bộ của PCT mà sau này chúng tôi sẽ lại đề cập tới), giữa đam mê và Thiền tính.  Bản chất Hưng không phải là một kẻ trầm tính.  Hưng là người nuôi nấng bao nhiêu tham vọng, ấp ủ bao nhiêu là đam mê.  Thiền là cái máy điều hòa những tham vọng và đam mê ấy: tham vọng biến thành hoài bão, đam mê biến thành nhiệt tình. 

(còn tiếp)